Mở đầu. Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu. Chƣơng 2 : Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3 : Kết quả và thảo luận.
3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khả năng sẵn sàng chiến đấu của lữ đoàn pháo binh dự bị trong Binh chủng Pháo binh. Khối lƣợng nhiệm vụ chiến đấu mà từng đơn vị lực lƣợng vũ trang có thể thực hiện đƣợc trong khoảng thời gian, không gian nhất định trong tình hình cụ thể.
Khả năng chiến đấu phụ thuộc vào: cơ cấu biên chế tổ chức, số lƣợng ngƣời, trình độ huấn luyện chiến đấu, trình độ giác ngộ chính trị và trạng thái tinh thần của bộ đội, số lƣợng và tình trạng vũ khí, phƣơng tiện kĩ thuật, năng lực chỉ huy và các mặt bảo đảm. Khả năng chiến đấu chịu tác động của các nhân tố nhƣ đối phƣơng, điều kiện địa hình, khí tƣợng - thủy văn. Khả năng chiến đấu có thể tính chung dƣới dạng tổng quát theo phân đội, binh đội, binh đoàn bằng số lƣợng quân địch (mục tiêu) mà đơn vị đó đủ sức tiêu diệt hoặc đánh bại, chiếm giữ khu vực địa hình, cũng có thể tính riêng từng mặt (nhƣ: khả năng hỏa lực, khả năng đột kích, khả năng cơ động, khả năng phòng không. Khả năng chiến đấu của từng loại đơn vị thuộc các quân chủng, binh chủng khác nhau đƣợc biểu thị bằng những chỉ số khác nhau.
Khả năng chiến đấu của các đơn vị thuộc quyền là căn cứ cơ bản để ngƣời chỉ huy hạ quyết tâm và giao nhiệm vụ chiến đấu. Khả năng chiến đấu của lục quân, đƣợc xác định bằng số lƣợng, quy mô và tính chất mục tiêu của đối phƣơng có thể tiêu diệt (sát thƣơng) và phá hủy, đánh chiếm trong tiến công và chiếm giữ trong phòng ngự; chiều sâu nhiệm vụ tác chiến và tốc độ tiến công; chiều sâu tiêu diệt (sát thƣơng) mục tiêu của địch trong bố trí của chúng bằng hỏa lực và lực lƣợng khác; thời gian chuẩn bị bộ đội để tiến hành nhiệm vụ. Có thể xem xét khả năng chiến đấu theo từng mặt nhƣ: khả năng tiêu diệt xe tăng, bắn máy bay, tạo mật độ lực lƣợng, phƣơng tiện trên hƣớng đột kích chủ yếu. Khả năng chiến đấu của không quân, đƣợc xác định bởi số lƣợng mục tiêu của đối phƣơng bị không quân tiêu diệt hoặc đánh phá; khối lƣợng và chất lƣợng tin tức trinh sát thu đƣợc; cự li hoạt động tác chiến; phƣơng pháp và khả năng hoạt 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động trong những điều kiện thời tiết khác nhau và khắc phục phòng không của đối phƣơng; số lƣợng bộ đội và phƣơng tiện có thể chuyên chở; thời gian cần để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và thời gian cần để chuẩn bị cất cánh lại; cƣờng độ xuất kích.
Khả năng chiến đấu của bộ đội phòng không là tổng thể những khả năng chiến đấu của các đơn vị PB phòng không, pháo phòng không; không quân tiêm kích (nếu có); bộ đội rađa và bộ đội tác chiến điện tử phòng không; số lƣợng hệ thống điều khiển tự động hóa, bảo đảm kĩ thuật và khả năng hiệp đồng. Đƣợc xác định bởi khả năng phát hiện, thông báo về mục tiêu trên không; số lƣợng mục tiêu có thể sát thƣơng bằng hỏa lực (PB, pháo phòng không) để bảo vệ mục tiêu. Khả năng chiến đấu của bộ đội PB, thể hiện bằng số lƣợng và mức độ sát thƣơng mục tiêu của đối phƣơng bằng PB; chiều sâu sát thƣơng (tầm bay của PB), cơ động đòn đột kích của các đơn vị PB; thời gian chuẩn bị kĩ thuật và chuẩn bị bắn. Khả năng chiến đấu của hải quân là khả năng tiêu diệt (sát thƣơng) số lƣợng mục tiêu của đối phƣơng trên biển, trên không và ven bờ cũng nhƣ những khả năng khác nhƣ trinh sát, chế áp điện tử.
Khả năng chiến đấu của lữ đoàn pháo binh dự bị trong BCPB: đƣợc xác định bằng số lƣợng và mức độ sát thƣơng (phá hủy) mục tiêu do một đơn vị pháo binh có thể đạt đƣợc khi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong điều kiện cụ thể; một căn cứ để ngƣời chỉ huy hạ quyết tâm và giao nhiệm vụ chiến đấu. Khả năng chiến đấu của các lữ đoàn PB phụ thuộc vào: quân số; trạng thái tinh thần, trình độ và kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội; trình độ ngƣời chỉ huy và cơ quan; số lƣợng, chất lƣợng của vũ khí, trang bị kĩ thuật, khả năng đề kháng của đối phƣơng; điều kiện địa hình, thời tiết. khả năng chiến đấu lữ đoàn PB thể hiện bằng chiều sâu (không gian) đánh địch bằng hỏa lực, cự li bắn đƣợc, khả năng sát thƣơng địch bằng đạn pháo (PB), khả năng cơ động, khả năng kĩ thuật về chuẩn bị PB và đầu đạn. Tính bền vững của khả năng chiến đấu của lữ đoàn pháo binh dự bị Có rấ t nhiều cách hiểu khác nhau về phát triể n bề n vững tuỳ theo cách tiếp cận, mục đích nghiên cƣ́u sƣ̉ dụng khác nhau mà khái niệm này đư ợc hiể u theo nhiề u cách khác nhau.
Thuật ngƣ̃ Phát triể n bề n vƣ̃ng (PTBV – Sustainable 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Development) lầ n đầ u tiên đư ợc sƣ̉ dụng trong bản “Chiế n lƣợc bảo tồ n thế giới” do IUCN đề xuấ t năm 1980. Mục tiêu tổ ng thể của Chiến lƣợc là “đa ̣t đư ợc sƣ̣ PTBV bằ ng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và thuật ngƣ̃ PTBV ở đây đư ợc đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấ n mạnh tính bề n vững của sƣ̣ phát triể n về mặt sinh thái, nhằ m kêu gọi việc bảo tồ n các tài nguyên sinh vật. Năm 1987, trong báo cáo “Tư ơng lai chung của chúng ta”, Ủy ban Quốc tế về Môi trƣờng và Phát triể n (WCED) của Liên hơ ̣p quố c, PTBV đư ợc đinh ̣ nghĩa là “Sƣ̣ phát triể n đáp ứng đư ợc nhu cầ u của hiện tại mà không làm tổ n thƣơng khả năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tƣơng lai”. Quan niệm này chủ yế u nhấ n mạnh khía cạnh sƣ̉ dụng hiệu quả nguồ n tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo môi trƣờng số ng cho con ngƣời trong quá trình phát triể n.
Nội hàm về PTBV đư ợc tái khẳ ng đinh ̣ ở Hội nghị Thƣợng đin̉ h Trái đấ t về Môi trƣờng và phát triể n tổ chƣ́c ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và đư ợc bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thƣợng đin̉ h Thế giới về PTBV tổ chƣ́c ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: PTBV là quá trình phát triể n có sƣ̣ kế t hơ ̣p chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giƣ̃a 3 mặt của sƣ̣ phát triể n, gồm: phát triể n kinh tế (nhấ t là tăng trƣởng kinh tế), phát triể n xã hội (nhấ t là thƣ̣c hiện tiế n bộ, công bằ ng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyế t việc làm) và bảo vệ môi trƣờng (nhấ t là xƣ̉ lý, khắ c phục ô nhiễm, phục hồ i và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng; phòng chố ng cháy và chặt phá rƣ̀ng; khai thác hơ ̣p lý và sƣ̉ dụng tiế t kiệm tài nguyên thiên nhiên). Hay nói một cách khác: Muố n phát triể n bề n vững thì phải đồ ng thời thƣ̣c hiện 3 mục tiêu nhƣ thể hiện trong hình 1.5: (1) Phát triể n có hiệu quả về kinh tế ; (2) Phát triể n hài hòa các mặt xã hội, nâng cao mƣ́c số ng, trình độ số ng của các tầ ng lớp dân cƣ và (3) Cải thiện môi trƣờng, bảo đảm phát triển lâu dài vƣ̃ng chắ c cho thế hệ hôm nay và mai sau (Tổ chƣ́c Bảo tồ n Thiên nhiên Quốc tế , 2012) 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tính bề n vững. Mô hình phát triể n bền vững Tính bề n vững đư ợc hiể u dƣ̣a trên một nguyên tắ c đơn giản đó là tấ t cả nhƣ̃ng thƣ́ con ngƣời cần để tồ n tại hay phát triể n một cách trực tiế p hay gián tiế p đều phụ thuộc vào môi trƣờng tƣ̣ nhiên.
Để phát huy tính bề n vững cầ n tạo ra và duy trì nhƣ̃ng điề u kiện nhấ t đinh ̣ mà trong đó con ngƣời và tƣ̣ nhiên có thể tồ n tại một cách hài hòa để hỗ trơ ̣ thế hệ hiện tại lẫn tƣơng lai (National Academy of Sciences, 2011). Trong nghiên cƣ́u này, tính bề n vững của chƣơng trình khí sinh học đư ợc hiể u là hệ thố ng các điề u kiện, tiêu chí có thể hỗ trơ ̣ duy trì cho sƣ̣ phát triể n của chƣơng trình, giúp chƣơng trình có thể tiế p tục kéo dài hoạt động, ngày càng mở rộng hơn và loại bỏ hay hạn chế các yếu tố tiêu cƣ̣c có thể phát sinh. Chỉ tiêu đánh giá tính bề n vững. Chỉ tiêu đánh giá tính bề n vững (hay còn gọi là chỉ tiêu phát triể n bề n vững) chính là thƣớc đo của tính bề n vững.
Với mục tiêu đánh giá và giám sát việc thƣ̣c hiện phát triể n bề n vững, nhiều bộchỉ tiêu và các chỉ số ở các cấ p khác nhau đã đư ợc xây dƣ̣ng với nguyên tắ c chung là có cơ sở khoa học, dễ hiể u, dễ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điề u tra hoặc là chỉ tiêu thố ng kê quố c gia hàng năm. Các chi tiêu có nhiề u chƣ́c năng giúp cho các nhà hoạch đinh ̣ chính sách ra quyết đinh ̣ tố t hơn, hành động có hiệu quả hơn bằ ng việc đơn giản hóa, minh bạch hóa và tổ ng hơ ̣p hóa các tài liệu có thể có. Các chỉ tiêu có thể tích hợp các tri thƣ́c về khoa học tƣ̣ nhiên và khoa học xã hội vào việc ra quyết đinh, ̣ giúp đo và điề u chinh quá trình phát triể n hƣớng tới mục tiêu bề n vững. Chúng giúp cho việc cảnh báo sớm, ngăn ngƣ̀a các hậu quả kinh tể , xã hội và môi trƣờng.
Các chỉ tiêu còn là công cụ để liên kế t các ý tƣởng, các suy nghĩ và các giá trị khác nhau (Trần Văn Ý và nnk, 2013). Xã hội loài ngƣời gồm nhiề u dân tộc khác nhau về văn hóa, lịch sử, tín ngƣỡng, chính trị, giáo dục và truyền thố ng, họ cũng rấ t khác nhau về mƣ́c độ phồ n vinh, về chấ t lƣợng cuộc số ng và điề u kiện môi trƣờng mà sƣ̣ nhận thƣ́c về sƣ̣ khác biệt đó cũng rấ t khác nhau. Hơn nƣ̃a, sƣ̣ cách biệt đó lại thƣờng xuyên vận động, khi tăng khi giảm.