Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Chi nhánh Chiêm Hóa Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Chi nhánh Chiêm Hóa Đỗ Thị Hảo 4 QLKT1- 2016TQ Đại học Bách khoa Luận văn thạc sỹ CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về huy động vốn tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2012 của Việt Nam: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng chính sách và Ngân hàng hợp tác xã”.
“Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản” Theo Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính năm 1990 của Việt Nam: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” Hiện nay, các Ngân hàng thương mại lớn đã trở thành các tập đoàn tài chính, có hàng loạt các Công ty trực thuộc làm cho định nghĩa Ngân hàng không còn đơn giản như trước nữa. Rose đã đưa ra một khái niệm mới về Ngân hàng: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” Tóm lại, từ những khái niệm trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về Ngân hàng thương mại như sau: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, cung cấp một danh mục dịch vụ tài chính tổng hợp với ba loại hình chủ yếu là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và làm dịch vụ thanh toán” Đỗ Thị Hảo 5 QLKT1- 2016TQ Đại học Bách khoa Luận văn thạc sỹ 1. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại Khái niệm chung nhất về Ngân hàng thương mại trên đây, và xét trên cách hiểu cơ bản nhất các hoạt động của một ngân hàng và cũng xết trên các hoạt động thường xuyên phổ biến nhất của các Ngân hàng thương mại hiện nay. Hoạt động của một Ngân hàng thương mại bao gồm: Huy động vốn, sử dụng vốn và cung ứng các dịch vụ thanh toán 1.
Huy động vốn Huy động vốn là hoạt động tạo lập nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Cũng giống như tất cả các hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế, nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh có vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định hầu hết các hoạt động của đơn vị kinh doanh, và là sức mạnh nội tại của chính đơn vị kinh doanh đó. Huy động vốn tại các Ngân hàng thương mại gồm rất nhiều kênh, phổ biến nhất hiện tại mà hầu như các ngân hàng đều cơ bản bao gồm: Vốn chủ sở hữu; Vốn huy động; Vốn đi vay; Vốn khác. Sử dụng vốn Nguồn vốn được tạo lập qua các kênh huy động trên đây là phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại còn được gọi là hoạt động sử dụng vốn.
Các Ngân hàng thương mại sử dụng vốn vào bất cứ hình thức kinh doanh gí mà pháp luật cho phép miễn sao bảo tón được vốn và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy vậy tựu chung lại có hai hình thức sử dụng vốn phổ biến nhất tại các Ngân hàng thương mại hiện nay đó là: Cho vay; đầu tư tài chính. Hoạt động cung cấp dịch vụ Ngoài hoạt động huy động và sử dụng vốn, một hoạt động mà chúng ta thường thấy tại các Ngân hàng thương mại là cung cấp các dịch vụ liên quan đến tài chính ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng là một phần không thể thiếu trong nền kinh tế, nó đảm bảo sự nhanh chóng thuận tiện, an toàn cho các hợp đồng kinh tế.
Và chính nhờ cung cấp các dịch vụ này mà các ngân hàng thu về những khoản lợi nhuận lớn hàng năm. Các dịch vụ phổ biến bao gồm: Mua bán chuyển đổi ngoại tệ; Thanh Đỗ Thị Hảo 6 QLKT1- 2016TQ Đại học Bách khoa Luận văn thạc sỹ toán trong nước và quốc tế; Tư vấn tài chính; Môi giới đầu tư chứng khoán; Cho thuê két; Quản lý dòng tiền…. Nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Vốn của ngân hàng thực chất là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng mà người chủ sở hữu của chúng gửi vào ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau. Nói cách khác, họ chuyển quyền sử dụng vốn tiền tệ cho ngân hàng đồng thời ngân hàng phải trả cho họ một khoản thu nhập tính trên tỷ lệ phần trăm số vốn đó. Như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò là một trung gian tài chính, tập trung và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm quá trình luân chuyển vốn quay vòng nhanh, kích thích hoạt động của mọi nền kinh tế. Và chính hoạt động này quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng 1.
Các đặc trưng của nguồn vốn trong Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là đơn vị kinh doanh tiền tệ, do đó nguồn vốn của nó có đặc điểm khác so với các doanh nghiệp khác ngành nghề cùng hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế. Nó thể hiện như sau: Tỷ trọng vốn chủ sở hữu thấp, thường chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng nguồn vốn hoạt động; trong khi vốn huy động và vốn đi vay là chủ yếu, thường chiếm đến 90%. Trong các nguồn vốn của Ngân hàng thương mại, vốn huy động đóng vai trò quan trọng nhất. Về tỷ trọng thì vốn huy động chiếm đến 70% tổng nguồn vốn, có tính ổn định cao và giá thành thường thấp hơn so với vốn đi vay.
Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại phản ánh quan hệ chuyển giao quyền sử dụng vốn là chủ yếu, điều này đồng nghĩa với việc các nguồn vốn này có tính thời hạn và tính hoàn trả. Đỗ Thị Hảo 7 QLKT1- 2016TQ Đại học Bách khoa Luận văn thạc sỹ Các giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành để huy động vốn có tính thanh khoản cao, do đó chúng được chiết khấu, cầm cố dễ dàng. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại được thành lập từ mọi thành phần kinh tế, chủ nợ của Ngân hàng thương mại rất đông và đa dạng, các kỳ hạn và giá trị của các khoản nợ cũng rất đa dạng. Nếu việc các chủ nợ của Ngân hàng rút vốn ồ ạt sẽ dẫn đến việc ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản và có thể dẫn đến phá sán.
Phân loại nguồn vốn tại Ngân hàng thương mại * Căn cứ vào tính chất sở hữu: Căn cứ vào tính chất sở hữu, nguồn vốn của Ngân hàng thương mại được chia thành - Vốn chủ sở hữu: Là vốn do các cổ đông góp hoặc được cấp ban đầu. - Nợ phải trả: Gồm vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác * Căn cứ vào thời hạn: Căn cứ vào thời hạn, nguồn vốn của Ngân hàng thương mại được phân thành: - Vốn không kỳ hạn: Là nguồn vốn mà chủ sở hữu không xác định được chính xác thời gian sử dụng nó. Do vậy các ngân hàng không có cơ sở để sử dụng nguồn vốn này. - Vốn có kỳ hạn: Là nguồn vốn mà chủ sở hữu xác định được chính xác thời gian sử dụng nó.
Do đó các ngân hàng hoàn toàn chủ động trong việc sử dụng nó. Nguồn vốn này thường được chia ra thành: Ngắn hạn (dưới 12 tháng), trung hạn (từ 12 đến 60 tháng) và dài hạn (trên 60 tháng). * Căn cứ vào quan hệ với chủ nợ: Căn cứ vào quan hệ với chủ nợ, nguồn vốn của Ngân hàng thương mại được phân thành: - Vốn huy động: Là nguồn vốn mà Ngân hàng là bên chủ động niêm yết các điều kiện huy động như: Loại tiền, lãi suất, kỳ hạn, điều kiện áp dụng…. - Vốn đi vay: Là nguồn vốn mà Ngân hàng thương mại là bên chủ động liên hệ với các tổ chức tín dụng khác để được vay.
Việc vay mượn và đàm phán các điều kiện diễn ra song phương. * Căn cứ vào tính chất thị trường: Căn cứ vào tính chất thị trường, nguồn vốn của Ngân hàng thương mại được phân thành: Đỗ Thị Hảo 8 QLKT1- 2016TQ Đại học Bách khoa Luận văn thạc sỹ - Nguồn vốn từ thị trường I: Là nguồn vốn được huy động từ các tổ chức kinh tế - xã hội, cá nhân và hộ gia đình. - Nguồn vốn từ thị trường II: Là nguồn vốn được huy động từ Ngân hàng Trung ương, kho bạc nhà nước và các tổ chức tín dụng khác * Căn cứ vào đối tượng huy động: Căn cứ vào đối tượng huy động, nguồn vốn của Ngân hàng thương mại được phân thành: - Nguồn vốn các tổ chức kinh tế - Nguồn vốn dân cư - Nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng khác - Nguồn vốn chính phủ - Nguồn vốn quốc tế * Căn cứ vào hình thức huy động: Căn cứ vào hình thức huy động, nguồn vốn của Ngân hàng thương mại được phân thành: - Tiền gửi - Phát hành giấy tờ có giá * Căn cứ vào loại tiền: Căn cứ vào loại tiền, nguồn vốn của Ngân hàng thương mại được phân thành: - Nguồn vốn bằng nội tệ - Nguồn vốn bằng ngoại tệ 1. Vai trò của hoạt động huy động vốn và các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại 1.