CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Đói nghèo và sự cần thiết phải giảm đói nghèo 1. Khái niệm người nghèo Quan niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người về: ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau chung nhất là thoả mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.
Các quan niệm về người nghèo khác nhau trên thế giới đề phản ánh 3 điểm chung nhất của người nghèo, đó là: - Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu dành cho con người. - Có mức thu nhập thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. - Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.2 Nguyên nhân đói nghèo Đói nghèo do nhiều nguyên nhân, nhưng có thể chia thành những nhóm nguyên nhân sau: * Nhóm nguyên nhân do chủ quan của người nghèo - Thiếu vốn sản xuất: các tài liệu điều tra cho thấy đây là nguyên nhân chủ yếu nhất. Nông dân thiếu vốn thường rơi vào vòng luẩn quẩn, sản xuất kém, làm không đủ ăn, phải đi làm thuê, phải đi vay để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày.
Có thể nói: thiếu vốn sản xuất là một lực cản lớn nhất hạn chế sự phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của các hộ gia đình nghèo. - Thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn: phương pháp canh tác cổ truyền đã ăn sâu vào tiềm thức, sản xuất tự cung, tự cấp là chính, thường sống ở những SV: Trần Mạnh Linh -12145179 8 Báo cáo thực tập nơi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, thiếu phương tiện thông tin, con cái thất học… Những khó khăn đó làm cho hộ nghèo không thể nâng cao trình độ dân trí, không có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác, thiếu kinh nghiệm và trình độ sản xuất kinh doanh dẫn đến năng suất thấp, không hiệu quả. - Do sinh đẻ nhiều, sức khoẻ yếu, không đủ sức làm kinh tế. Bình quân nhân khẩu lớn nhưng lao động ít.
- Đất đai canh tác ít, thiếu việc làm, không năng động tìm việc làm, lười biếng, mắc các tệ nạn xã hội. Mặt khác do hậu quả của chiến tranh dẫn đến nhiều người dân bị mất sức lao động, nhiều phụ nữ bị goá phụ dẫn tới thiếu lao động hoặc thiếu lao động trẻ, khoẻ có khả năng đảm nhiệm những công việc nặng nhọc. - Gặp những rủi ro trong cuộc sống, người nghèo thường sống ở những nơi hẻo lánh xa trung tâm, thời tiết khắc nghiệt, nơi mà thường xuyên xảy ra hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh… Cũng chính do thường sống ở những nơi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn mà hàng hoá của họ sản xuất ra thường bị bán rẻ (do chi phí giao thông) hoặc không bán được, chất lượng hàng hoá giảm sút do lưu thông không kịp thời. * Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: việc thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, lâm, ngư, chính sách trong giáo dục - đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định canh, định cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư còn hạn chế… * Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên xã hội: điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động đến sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nghèo, ở những vùng có khí hậu khắc nghiệt: thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, đất đai cằn cỗi, diện tích canh tác ít, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế chậm phát triển, hậu quả của chiến tranh để lại, cơ sở hạ tầng thiếu hoặc không có là những vùng có nhiều hộ nghèo đói nhất.3 Những đặc điểm cơ bản của hộ nghèo - Đặc trưng cơ bản và dễ nhận diện nhất đó là hộ gia đình nghèo thường thiếu việc làm.
Người nghèo đa phần là những nông dân sống ở các vùng nông SV: Trần Mạnh Linh -12145179 9 Báo cáo thực tập thôn, cơ bản họ vẫn còn tư liệu sản xuất như ruộng đất, nhưng họ thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức sản xuất. - Phần lớn người nghèo có trình độ học vấn thấp, bị hạn chế về khả năng tiếp cận kỹ năng, kỹ thuật sản xuất tiên tiến và những thông tin thị trường và thường rất dễ bị tổn thương bởi những biến cố khách quan mang tính thời vụ hoặc những biến động bất thường xảy ra. - Các hộ nghèo thường có nhiều con hoặc có ít lao động trong gia đình, chịu những áp lực lớn về chi phí y tế, giáo dục, phải tốn kém nhiều để giữ gìn, nâng cao nguồn nhân lực. - Hộ nghèo thuộc dân tộc ít người thường chịu nhiều bất lợi do bị tách biệt về mặt địa lý và về mặt xã hội.
Những hộ nghèo ở thành thị đa phần là những người thất nghiệp hoặc có những việc làm không ổn định. Hộ nghèo ở các vùng nông thôn có một số rơi vào tình trạng không có đất do phải cầm cố, cho thuê hoặc bán để chi tiêu vào những lúc khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống và cũng có rất nhiều hộ nghèo có ít đất đai.4 Hậu quả của đói nghèo - Đói nghèo gây cản trở tăng trưởng kinh tế: nghèo đói không đủ ăn, không có vốn sản xuất dẫn đến thất nghiệp, không có thu nhập làm cho kinh tế của toàn xã hội không phát triển. - Kìm hãm phát triển con người: nghèo đói làm cho các em nhỏ không có điều kiện được đi học dẫn đến mù chữ, trình độ học vấn thấp không đủ kiến thức để đáp ứng yêu cầu sản xuất của nền kinh tế mới, càng gây cùng cực cho người nghèo. - Gây bất bình đẳng xã hội: quy luật từ sự đói nghèo dẫn đến hậu quả hết sức nghiêm trọng nó đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội, khoảng cách giầu nghèo ngày càng tăng, phát sinh tệ nạn cho vay nặng lãi và bán sản phẩm trước kỳ thu hoạch của các hộ nông dân.
- Hủy hoại môi trường: từ nghèo đói con người sẽ huỷ hoại và khai thác các tài nguyên thô để đáp ứng nhu cầu của mình như chặt phát rừng, khai thác quặng bừa bãi làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái. SV: Trần Mạnh Linh -12145179 10 Báo cáo thực tập - Đói nghèo là nguy cơ gây mất ổn định xã hội và phát triển bền vững: thiếu vốn, thiếu việc làm nảy sinh các tệ nạn xã hội, bệnh tật phát triển, gia tăng buôn lậu, tham nhũng, hối lộ… 1.2 Sự cần thiết phải giảm đói nghèo Đói, nghèo hiện nay là một vấn đề mang tính toàn cầu. Theo ước tính của Ngân hàng thế giới, hiện nay có hơn 1 tỷ người trên hành tinh còn sống trong nghèo đói với mức thu nhập bình quân đầu người dưới 1USD một ngày và trên 2 tỷ người có mức thu nhập dưới 2USD một ngày. Đói, nghèo không những chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần mà còn liên quan đến nhiều vấn đề chính trị, văn hoá, xã hội và tính nhân đạo trong cuộc sống.
Nghèo cũng là sự phản ánh tình trạng của sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội, biểu hiện ra ở phân tầng xã hội, phân hoá giai cấp và phân cực xã hội. Trong giai đoạn hiện tại thương mại hoá toàn cầu là xu hướng phát triển của kinh tế thế giới, trong kinh tế thương mại quy luật cạnh tranh đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình phát triển không đều, càng làm sâu sắc thêm sự phân hoá giữa các tầng lớp dân cư trong một quốc gia, giữa các quốc gia với nhau và các châu lục. Theo kinh nghiệm tại nhiều quốc gia cho thấy, khi kinh tế càng phát triển nhanh bao nhiêu, năng suất lao động càng cao bao nhiêu nếu không giải quyết các vấn đề xã hội như: công bằng trong phân phối, chống tình trạng bóc lột thì tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân cư lại càng bức xúc và dễ có nguy cơ dẫn đến xung đột. Điều đó được thể hiện rõ nét và trực tiếp ở bức tranh ảm đạm của thế giới về tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, về tốc độ tăng thu nhập không đều của các cá nhân và các nhóm dân cư, cũng như các giai cấp trong xã hội (giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột).
Khoảng cách về mức thu nhập của người nghèo so với người giàu ngày càng có xu hướng dãn rộng ra đang là vấn đề có tính toàn cầu. Chính vì thế, cho nên công cuộc xoá đói giảm nghèo đối với mọi quốc gia luôn đóng một vai trò cần thiết và quan trọng trong suốt quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội. Đói, nghèo thường là nguyên nhân xảy ra bất ổn định xã hội, xung đột giai cấp, xung đột chính trị, là nhân tố tác động ngược lại quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Vì thế, hầu hết các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, mặc dù có những thể chế chính trị xã hội khác nhau nhưng đều có SV: Trần Mạnh Linh -12145179 11 Báo cáo thực tập mục tiêu chung đó là làm thế nào để giảm thiểu tình trạng đói, nghèo, ổn định xã hội, tăng trưởng kinh tế, làm cho quốc gia mình, dân tộc mình giàu có hơn.
Mặt khác, trong tiến trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo có mối quan hệ biện chứng. Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở, điều kiện vật chất để giảm nghèo. Ngược lại giảm nghèo là nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế mang tính bền vững. Tuy nhiên trong mối quan hệ này, giảm nghèo vẫn là yếu tố chịu sự chi phối, phụ thuộc vào yếu tố tăng trưởng kinh tế.3 Thực trạng hộ nghèo ở Việt Nam Chuẩn nghèo (hay còn gọi là ngưỡng nghèo hoặc tiêu chuẩn nghèo) là công cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo.
Hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu.