Lời mở đầu và Kết luận, khóa luận tốt nghiệp đƣợc kết cấu theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lí luận cơ bản về hiệu quả hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại BIDV Bỉm Sơn. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại BIDV Bỉm Sơn. 2 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” – Theo Luật doanh nghiệp 1999. Trong Luật này cũng quy định về các loại hình doanh nghiệp bao gồm: Công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tƣ nhân. Đây là cách phân chia dựa trên căn cứ về hình thức sở hữu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý hành chính của Nhà nƣớc.
Việc thành lập, tổ chức quản lý, và hoạt động của các loại hình DN này đều đƣợc pháp luật quy định rõ. Để đánh giá mức độ phát triển và tăng cƣờng hỗ trợ cho các DN, ngƣời ta thƣờng chia các loại hình DN dựa theo tiêu thức về quy mô. Theo tiêu thức này, DN đƣợc chia thành DN lớn và DNNVV. Quy mô của DN đƣợc đánh giá dựa trên một hoặc một nhóm tiêu chí nhƣ vốn, doanh thu, lao động,…Mỗi quốc gia, mỗi khu vực có thể lựa chọn một chỉ tiêu hoặc một nhóm các chỉ tiêu khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển và quan điểm riêng của mỗi nƣớc.
Việc đƣa ra đƣợc tiêu chí xác định phù hợp là rất quan trọng nhằm xây dựng chính sách hỗ trợ và định hƣớng phát triển đối với các DN đúng đắn và hợp lí hơn. Căn cứ Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về Định nghĩa Doanh nghiệp nhỏ và vừa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên), cụ thể nhƣ sau: 3 Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nhiệp nhỏ và vừa Tùy vào khu vực Nông nghiệp, Công nghiệp, Dịch vụ mà có quy định khác nhau về số lao động trung bình hàng năm. Ví dụ, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định Trong khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản; số lƣợng lao động trung bình hàng năm từ 10 ngƣời trở xuống đƣợc coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dƣới 200 ngƣời lao động đƣợc coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 ngƣời lao động thì đƣợc coi là Doanh nghiệp vừa. Đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp nhỏ và vừa Các DNNVV ở Việt Nam cũng mang những đặc điểm tƣơng đồng với DNNVV ở các nƣớc đang phát triển.
Những đặc điểm đó là: Thứ nhất, DNNVV năng động, linh hoạt, dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trƣờng. DNNVV chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội, với số vốn ít, vòng quay vốn của các DNNVV thƣờng là ngắn, các phƣơng án sản xuất kinh doanh không lâu dài nhƣ các DN lớn. Với lợi thế đó, DNNVV dễ dàng thay đổi quy mô, thay đổi sản phẩm khi có sự thay đổi của thị trƣờng. 4 Thứ hai, các DNNVV hiện nay đã chú trọng đổi mới công nghệ nhƣng còn tƣơng đối lạc hậu, không đồng bộ.
Trong những năm gần đây, các DNNVV của Việt Nam mặc dù đã tiến hành nhập ngoại nhiều công nghệ hiện đại, nhƣng do chƣa có nhiều kinh nghiệm trong việc mua và chuyển giao công nghệ và chi phí nhập ngoại công nghệ tƣơng đối lớn so với quy mô vốn nên các DNNVV thƣờng không đủ khả năng để đổi mới một cách đồng bộ. Điều này đã gây ra việc dây chuyền sản xuất không thể khai thác hết công suất, sản phẩm sản xuất ra không đảm bảo chất lƣợng, không có sức cạnh tranh trên thị trƣờng… Thứ ba, DNNVV góp phần giải quyết hiệu quả vấn đề lao động và việc làm, nhƣng phần lớn đội ngũ lao động còn yếu kém. Đội ngũ lao động của DNNVV có trình độ khá đa dạng. Chính vì vậy việc quản lý và sử dụng lao động tại các DN này thƣờng không hiệu quả.Ngoài ra lao động ở DNNVV có tính chọn lọc không cao.
Bên cạnh đó, với quy mô vốn nhỏ và trình độ quản lý hạn chế của chủ DN, các DNNVV thƣờng không tạo ra đƣợc môi trƣờng làm việc hấp dẫn đối với đội ngũ lao động chuyên nghiệp, môi trƣờng làm việc của các DNNVV thƣờng trì trệ, duy ý chí, sử dụng lao động không hiệu quả, gây lãng phí nguồn lực sẵn có và không thu hút đƣợc các lao động mới có trình độ cao. Thứ tư, DNNVV có quy mô vốn nhỏ nên năng lực cạnh tranh còn thấp. Quy mô vốn là tiêu chí chủ yếu để phân biệt DNNVV với DN lớn. Có thể nói, vì thiếu vốn nên DN gặp khó khăn.
Các DNNVV Việt Nam với quy mô vốn thấp và còn nhiều hạn chế về công nghệ, lao động, trình độ của đội ngũ quản lý…do đó kênh huy động vốn là từ gia đình, bạn bè, và một số là từ vay các cá nhân khác với lãi suất cao và việc tiếp cận tín dụng ngân hàng của các DNNVV còn hạn chế vì vậy DNNVV rất khó mở rộng quy mô vốn. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, DNNVV đóng góp lớn vào thu nhập của nền kinh tế quốc dân, góp phần giải quyết công ăn việc làm và ổn định kinh tế xã hội. 5 Hiện nay ở các quốc gia trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam DNNVV đều chiếm tỷ lệ áp đảo trong tổng số DN. Một trong những lí do khiến cho đội ngũ các DNNVV luôn chiếm đại đa số là do việc thành lập DN khá dễ dàng.
Mỗi nƣớc có một quy định khác nhau trong việc cho phép thành lập DNNVV, tuy nhiên yêu cầu đặt ra thƣờng thấp, cụ thể ở VN quy định DN phải có vốn điều lệ là 10 tỷ đồng. Theo thống kê hiện nay, hàng năm lực lƣợng các DNVVN tại Việt Nam đóng góp khoảng 40 % vào sản lƣợng của nền kinh tế và thu hút khoảng 28 % lao động. Mặt khác, các DNNVV phần lớn đƣợc phát triển từ h́nh thức kinh tế hộ gia đình, với các loại hình thu hút đƣợc nhiều lao động phổ thông, bao gồm lao động nhàn rỗi ở nông thôn, lao động qua đào tạo dạy nghề nhiều cấp bậc, và một bộ phận lao động có trình độ cao. Với biên độ về trình độ lao động lớn nhƣ vậy, các DNNVV góp phần giải quyết vấn đề công ăn việc làm triệt để hơn, giúp nâng cao hiệu quả xã hội, thực hiện các chính sách vĩ mô về việc làm và phát triển kinh tế.
Thứ hai, hoạt động của các DNNVV tạo ra sự cân đối giữa các vùng miền, các ngành nghề kinh tế. DNNVV có cơ cấu ngành nghề khá đa dạng và phong phú, bao gồm cả các lĩnh vực truyền thống và hiện đại. Bên cạnh các ngành nghề nông, lâm, nghiệp, thủy sản…, còn có các dịch vụ mới phát triển giúp cho nền kinh tế năng động hơn. Bên cạnh đó, tại các thành phố lớn thƣờng tập trung nhiều DN lớn, các công ty, tập đoàn đa quốc gia, vì thế DNNVV thƣờng tập trung ở các địa phƣơng với số lƣợng lớn và đƣợc phẩn bổ khá đồng đều.
Đặc biệt, tại các vùng miền còn khó khăn, việc phát triển DNNVV là phƣơng án tối ƣu để từng bƣớc thúc đẩy kinh tế. Đây là ƣu điểm nhằm góp phần vào chính sách phát triển đồng bộ của nhà nƣớc, giảm bớt khoảng cách kinh tế - xã hội giữa các vùng miền, cân đối cơ cấu ngành kinh tế. Thứ ba, DNNVV góp phần khai thác tiềm năng của địa phƣơng, là trụ cột của nền kinh tế địa phƣơng. 6 Khác với các DN lớn thƣờng đặt tại các thành phố lớn hay những vùng kinh tế trọng điểm, các DNNVV hầu hết nằm dàn trải tại các địa phƣơng.
Do vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh và định hƣớng phát triển của DNNVV trƣớc hết phải gắn với các đặc điểm kinh tế xã hội cũng nhƣ tiềm năng của địa phƣơng: sản xuất những cái địa phƣơng cần, sản xuất dựa trên các nguồn lực sẵn có, kinh doanh dựa trên môi trƣờng pháp lý của địa phƣơng. Từ đó, DN mới khẳng định đƣợc vị thế của mình và mở rộng hoạt động ra cả nƣớc cũng nhƣ quốc tế. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN thƣờng gắn bó chặt chẽ với việc khai thác nguồn lực địa phƣơng. Tỉnh có địa hình đẹp thƣờng phát triển ngành du lịch, tỉnh có truyền thống văn hóa lâu đời thì phát triển du lịch làng nghề, các thành phố trẻ chủ yếu phát triển các ngành dịch vụ mới….Bên cạnh đó, DNNVV chiếm tuyệt đại đa số trong nền kinh tế địa phƣơng nên đóng góp rất lớn vào sản lƣợng cũng nhƣ giải quyết công ăn việc làm cho ngƣời lao động.
Việt Nam đang thực hiện công nghiệp hóa đất nƣớc, vì vậy từng bƣớc phát triển vững chắc các DNNVV dựa trên nguồn lực sẵn có là hƣớng đi đúng đắn. Đồng thời, DNNVV góp phần thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và là trụ cột để nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phƣơng trong thời đại mở cửa và hội nhập. Thứ tư, DNNVV hỗ trợ hiệu quả các khâu sản xuất kinh doanh cho DN lớn, là nền tảng để hình thành các DN lớn mạnh trong nền kinh tế thị trƣờng. Bất cứ DN nào muốn lớn mạnh cũng phải xuất thân từ một DNNVV.
Vì vậy, việc phát triển lực lƣợng DNNVV sẽ tạo đà cho nền kinh tế phát triển vững chắc và hội nhập sâu rộng vào sân chơi thƣơng mại quốc tế. Bên cạnh đó, cùng với việc phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, các DNNVV cũng ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hoạt động cho các DN lớn.