phần mở đầu , kết luận và kiến nghị, luận văn có kết cấu gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vận tải Chƣơng 2: Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần vận tải tốc hành Mai Linh Chƣơng 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần vận tải tốc hành Mai Linh 8 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VẬN TẢI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP VẬN TẢI 1. Khái niệm về doanh nghiệp Doanh nghiệp là một trong các chủ thể kinh doanh chủ yếu của nền kinh tế có quy mô và vai trò to lớn so với việc kinh doanh của các cá nhân. Nói đến khái niệm về doanh nghiệp có nhiều quan điểm: Có quan điểm cho rằng doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế đƣợc thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi.
Theo viện thống kê và nghiên cứu kinh tế Pháp (INSSE) thì cho rằng: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất ra của cải vật chất hoặc các dịch vụ dùng để bán. Theo luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ các khái niệm khác nhau ta có thể tìm ra các điểm chính của khái niệm doanh nghiệp là: Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh đƣợc tổ chức nhằm tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trên thị trƣờng, thông qua đó để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng pháp luật của nhà nƣớc và quyền lợi chính đáng của ngƣời tiêu dùng. Khái niệm về doanh nghiệp vận tải Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con ngƣời nhằm thay đổi vị trí của con ngƣời và hàng hóa từ nơi này đến nơi khác.
Do vậy khi có vận tải con ngƣời đã chinh phục đƣợc khoảng cách không gian và tạo ra khả năng sử dụng rộng rãi giá trị sử dụng của hàng hóa để thoả mãn nhu cầu đi lại của con ngƣời. 9 Vận tải là một quá trình thay đổi (di chuyển) vị trí của hàng hoá, hành khách trong không gian và thời gian cụ thể để nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con ngƣời. Doanh nghiệp vận tải là một tổ chức đƣợc thành lập để thực hiện chức năng sản xuất, kinh doanh sản phẩm vận tải hàng hóa, hành khách hay các loại dịch vụ vận tải (dịch vụ bến bãi, xếp dỡ, đại lý vận tải, bảo dƣỡng sửa chữa phƣơng tiện vận tải .) trên thị trƣờng nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Phân loại doanh nghiệp vận tải Tuỳ theo mục đích quản lý có thể phân loại doanh nghiệp vận tải theo các tiêu thức khác nhau: a.
Theo đối tượng kinh doanh. Doanh nghiệp vận tải đƣợc phân ra thành hai loại: - Doanh nghiệp vận tải hàng hóa bao gồm: vận tải hàng hóa trong nƣớc hoặc quốc tế - Doanh nghiệp vận tải hành khách bao gồm: + Vận tải hành khách trong thành phố hoặc nội tỉnh nhƣ: xe buýt, taxi. + Vận tải hành khách liên tỉnh. + Vận tải hành khách quốc tế.
- Doanh nghiệp vận tải hỗn hợp b. Theo công nghệ vận chuyển. Doanh nghiệp vận tải đƣợc phân ra thành hai loại: - Vận tải đơn: Là loại hình vận tải chỉ có một phƣơng thức vận tải tham gia vào sản xuất vận tải nhƣ: các doanh nghiệp vận tải ô tô, đƣờng sắt, đƣờng thuỷ, đƣờng hàng không và đƣờng ống. - Vận tải đa phƣơng thức: Là sự kết hợp giữa các loại hình vận tải và các dịch vụ hỗ trợ kèm theo nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng mà trong quá trình di chuyển vị trí của đối tƣợng vận tải chỉ có một chủ vận đơn.
Theo hình thức sở hữu và phương thức quản lý. 10 Doanh nghiệp vận tải đƣợc chia ra: - Doanh nghiệp vận tải quốc doanh. - Doanh nghiệp vận tải ngoài quốc doanh bao gồm: doanh nghiệp vận tải tƣ nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty liên doanh … d. Theo quy mô của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp vận tải đƣợc phân thành ba loại doanh nghiệp: - Doanh nghiệp có quy mô lớn. - Doanh nghiệp có quy mô trung bình bình. - Doanh nghiệp có quy mô nhỏ. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VẬN TẢI.
Khái niệm về hiệu quả kinh doanh. Khi thực hiện một hoạt động nào đó, bất cứ doanh nghiệp cũng mong đạt đƣợc hiệu quả. Hiệu quả là một chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại đƣợc kết quả tƣơng ứng với toàn bộ nguồn lực phải bỏ ra trong quá trình thực hiện một hoạt động nhất định (nhằm đạt một mục đích nào đó ). Xuất phát từ điều kiện lịch sử khác nhau, góc độ nghiên cứu khác nhau mà có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả: - Theo giáo trình phân tích kinh tế doanh nghiệp – TS.
Nguyễn Văn Phúc Đại học Kinh tế Quốc dân thì “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả và mục tiêu kinh doanh”. Đây là một khái niệm tổng quát, thể hiện đƣợc bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh, và là một vấn đề hết sức phức tạp, có liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều mặt của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ: lao động, tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động… Bởi vậy khi phân tích phải sử dụng nhiều chỉ tiêu nhƣ: hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lợi của vốn… 11 - Theo giáo trình hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp – NXB Giáo dục năm 1995 thì “Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. Ƣu điểm của quan điểm này là phản ánh đƣợc mối quan hệ bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nó gắn đƣợc kết quả với toàn bộ chi phí.
Tuy nhiên nó không đề cập đến trình độ sử dụng lao động xã hội cũng nhƣ sử dụng các nguồn nhân lực để đạt đƣợc kết quả kinh tế cao. - Theo giáo trình kinh tế và phân tích hoạt động doanh nghiệp – NXB Thống kê năm 1997 thì “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn nhân lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình sản xuất nhằm mục tiêu kinh doanh”. Khái niệm này gắn quan niệm hiệu quả với cơ sở lý luận kinh tế của Đảng và Nhà nƣớc ta trong đƣờng lối phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Nền kinh tế quốc gia cần đƣợc phát triển theo đồng thời theo cả chiều rộng và chiều sâu.
Khi nói đến hiệu quả của một hoạt động nào đó ta phải gắn nó với một mục đích nhất định. Hiệu quả luôn gắn với mục tiêu xác định, không có hiệu quả chung chung. Nhƣ vậy trƣớc hết hiệu quả phải xét trên khía cạnh: mức độ đạt đƣợc mục tiêu và kết quả thu lại có tƣơng xứng với mức hao phí về nguồn lực để đạt đƣợc mục tiêu đó không? Để phản ánh kết quả thu lại có tƣơng xứng với mức hao phí về nguồn lực hay không ta sử dụng chỉ tiêu tƣơng đối so sánh giữa kết quả thu đƣợc với mức hao phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó phù hợp với mục tiêu đặt ra của hoạt động. Nhƣ vậy hoạt động kinh doanh của một đơn vị kinh tế đƣợc coi là hiệu quả nếu thỏa mãn những yêu cầu chủ yếu sau: - Kết quả kinh doanh thu đƣợc là tối đa với chi phí bỏ ra phải là tối thiểu.
Đây cũng chính là tính kinh tế của hoạt động kinh doanh. 12 - Sản phẩm xã hội thu lại nhiều nhất nhằm đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng và yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân đòi hỏi nhƣng với chi phí xã hội bỏ ra là nhỏ nhất. - Đảm bảo các yêu cầu về mặt xã hội và tác động tích cực đến môi trƣờng sinh thái.2 Phân loại hiệu quả Ta có sơ đồ 1 biểu diễn các loại hiệu quả ở trang 14 - Hiệu quả kinh tế xã hội: đối với một quốc gia thì hiệu quả tổng hợp là hiệu quả kinh tế xã hội. Hiệu quả kinh tế xã hội bao gồm: + Hiệu quả kinh tế: là hiệu quả nếu chỉ xét đến khía cạnh kinh tế của vấn đề.
Hiệu quả kinh tế mô tả quan hệ kinh tế giữa lợi ích kinh tế mà chủ thể nhận đƣợc và chi phí bỏ ra để nhận đƣợc lợi ích kinh tế đó. Đối với Nhà nƣớc lợi ích kinh tế không chỉ bó hẹp trong doanh nghiệp mà còn xem xét trên toàn bộ nền kinh tế. + Hiệu quả chính trị xã hội: là hiệu quả mà chủ thể nhận đƣợc trong việc thực hiện các mục tiêu chính trị xã hội. - Hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp: căn cứ vào sự tác động hiệu quả lên các đối tƣợng ta phân ra hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp.
+ Hiệu quả trực tiếp: là hiệu quả do chủ thể thực hiện có tác động trực tiếp ngay đến kết quả khi thực hiện mục tiêu hoạt động của chủ thể. + Hiệu quả quả gián tiếp: là hiệu quả mà một đối tƣợng nào đó tạo ra cho một đối tƣợng khác. 13 Hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế xã hội Hiệu quả chính trị xã hội Hiệu quả tƣơng đối Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tƣơng đối Hiệu quả tuyệt đối HIỆU Hiệu quả trực tiếp Hiệu quả trực tiếp và hiệu QUẢ quả gián tiếp Hiệu quả gián tiếp Hiệu quả tài chính Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế Hiệu quả trƣớc mắt Hiệu quả trƣớc mắt và hiệu quả lâu dài Hiệu quả lâu dài Sơ đồ 1.1: Phân loại hiệu quả - Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối: căn cứ vào lợi ích thu đƣợc tính bằng giá trị của kết quả và chi phí là số tuyệt đối hay tƣơng đối thì hiệu quả đƣợc phân thành hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tƣơng đối.