CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNH VE CONG TAC QUAN TRI AN NINH TRUYÈN THÔNG MẠNG XÃ HỘI 1. Tổng quan về an ninh truyền thông 1. Khái niệm An ninh là khái niệm dùng để chỉ “trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm, de doa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, tổ chức, của từng lĩnh vực hoạt động xã hội hoặc của toàn xã hội”. Còn nói đến an ninh quốc gia, tức là nói tới sự ôn định và phát triển bền vững của chế độ xã hội trong một quốc gia, trong đó đề cao độc lập, chủ quyền, tính thống nhất, toàn vẹn lãnh thé và các lợi ích quan trọng khác của một quốc gia.
Trong giới nghiên cứu phương Tây, Richard H. Ullman có lẽ là một trong những người đầu tiên đưa ra quan niệm ngắn gọn và cô đọng nhất về an ninh truyền thông. Trong bài viết mang tính tiên phong của mình vào năm 1983, ông cho rằng an ninh quốc gia không nên hiểu theo nghĩa hẹp là bảo vệ nhà nước trước những cuộc tan công quân sự qua biên giới lãnh thổ mà an ninh quốc gia còn phải đối mặt với những thách thức truyền thông, bao gồm: khủng bồ quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức, an ninh môi trường, di cư bất hợp pháp, an ninh năng lượng và an ninh con người, Non Traditional Security (Richard H. Ullman, 1983) Nhìn nhận dưới một góc độ khác, Mely Caballero Anthony quan niệm mối de dọa an ninh truyền thông có thể được định nghĩa là: thách thức đối với sự tồn vong và thịnh vượng của các quốc gia, dân tộc, xuất hiện chủ yếu trong các nguồn phi quân sự, chăng hạn như thay đổi khí hậu, suy thoái môi trường xuyên biên giới và nguồn tài nguyên cạn kiệt, bệnh truyền nhiễm, thiên tai, di cư bat hợp pháp, tình trạng thiếu lương thực, buôn lậu, buôn bán ma túy và các hình thức khác của tội phạm xuyên quốc gia.
Từ định nghĩa này có thể thấy răng, an ninh truyền thông thường có đặc điểm chung là bao hàm những yếu tố phi quân sự, không tồn tại trong phạm vi một quốc gia, dân tộc; nó phát triên, lan tỏa và được truyên di nhanh chóng nhờ xu thê toàn câu hóa và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ. Điều đó cho thấy, những vấn đề an ninh truyền thông có số lượng nhiều hơn và hậu quả nguy hiểm đáng sợ không thua kém thách thức an ninh quốc gia, (Difining no-traditional security threats, 2012) Còn theo Amitav Acharya, an ninh truyền thông là “các thách thức đối với sự tồn vong và chất lượng cuộc sông của con người và nhà nước có nguồn gốc phi quân sự như thay đổi khí hậu, khan hiém nguon lực, bệnh dich, thiên tai, di cư không kiểm soát, thiếu lương thực, buôn người, buôn ma túy và tội phạm có tô chức”. Trong cách tiếp cận vấn đề an ninh truyền thông này, hai đối tượng bị thách thức trực tiếp ở đây là nhà nước và con người. Tại châu Á, Trung Quốc là nước có khá nhiều học giả nghiên cứu về ninh truyền thông.
Đặc biệt, sau sự kiện ngày 11-9-2001 - khi 2 tòa tháp của Trung tâm Thương mại thế giới tại New York bị bọn khủng bố đánh sập - rồi thế giới liên tiếp xảy ra các cuộc khủng bố ở nhiều nơi, cộng thêm tình trạng bạo lực, dịch bệnh diễn ra trong và ngoài biên giới Trung Quốc. thì giới nghiên cứu ở quốc gia này gia tăng mức độ quan tâm đến các mối de doa ninh truyền thông.7] Tại Việt Nam, theo Luật An ninh quốc gia Việt Nam (năm 2004) định nghĩa tại khoản 1 điều 3: “An ninh quốc gia là sự ồn định, phát triển bên vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bat khả xâm phạm độc lập, chủ quyên, thong nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ” Khái niệm “An ninh”, theo Wikipedia, (tiếng Anh: security) nghĩa là tránh được hoặc bền bi trước các mối đe doa tiềm tàng (hoặc các thay đôi mang tính cưỡng chế không mong muốn) từ kẻ khác, nói cách khác là bảo đảm được sự an toàn trước các mối đe doa. Bên thu hưởng an ninh có thể là người, nhóm người trong xã hội, sự vật, định chế, hệ sinh thái hoặc bat cứ thực thé nào hoặc hiện tượng nào dé bị tác động bởi những biến đổi không mong muốn của môi trường xung quanh. Nội hàm an ninh chủ yếu đề cập đến sự bảo vệ khỏi các thế lực thù địch, tuy nhiên khái niệm này còn vô số cách tiếp cận khác: ví dụ, an ninh mức sông (đạt được mức sống đầy đủ, không thiếu thốn), an ninh lương thực (không thiếu ăn), an ninh mang, an ninh giam giữ, an ninh cảm xúc,.
Thuật ngữ này cũng được sử dụng khi dé cập đến các hành vi và các hệ thống có mục đích cung cấp an ninh (ví dụ: lực lượng an ninh, nhân viên bảo vệ, hệ thống an ninh mạng, camera an ninh, giám sát từ xa). Khái niệm an ninh truyền thông đã có từ thời chiến tranh lạnh, đồng nghĩa với khái niệm an ninh quốc gia, đề cập tới an ninh quốc gia cũng chính là an ninh truyền thông. Nội dung cơ bản của an ninh quốc gia chính là bảo vệ lợi ích của quốc gia, loại trừ những mối uy hiếp đối với lợi ích cơ bản đó. Mục tiêu của an ninh quốc gia chính là củng cố nền tảng vững chắc bên trong, phòng ngừa sự xâm nhập, tiến công quân sự từ bên ngoài và bảo vệ vững chắc chủ quyền và thể chế chính trị quốc gia.
Nội dung của an ninh truyền thông hay an ninh quốc gia chính là an ninh chính trị, an ninh quân sự, an ninh xã hội. Trọng tâm bảo đảm an ninh quốc gia chính là bảo vệ lợi ích và chủ quyền quốc gia, bảo vệ an ninh chính tri, an ninh quân sự và an ninh, an toàn xã hội Trong quá trình đổi mới dat nước, quan niệm về an ninh cũng có những nhận thức đầy đủ hơn. Đảng ta khang định, kinh tế - xã hội phát triển, tăng trưởng kinh tế không chỉ tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật, nguồn lực đề tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, mà còn tạo cơ sở chính trị - xã hội thuận lợi cho việc nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia. Từ đó, quan niệm về an ninh truyền thông, an ninh quốc gia được mở rộng, đầy đủ hơn, mang tính tổng hợp.
Đó là an ninh chính tri, an ninh quốc phòng, an ninh đối ngoại, an ninh tư tưởng, văn hóa, xã hội. Như vậy, an ninh quốc gia chính là sự ôn định, bình yên của đất nước, của chế độ; là trạng thái yên ồn, thanh bình trên tat cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Như vậy, có thể hiểu an ninh truyền thông là công việc bảo vệ thông tin và hệ thống truyền thông từ các cơ sở và mối đe dọa. Nó bao gồm tính năng bảo vệ toàn bộ, sẵn sàng và bảo mật thông tin, cũng như đảm bảo rằng việc truyền thông hệ thống không bị tấn công hoặc sử dụng một cách không chính xác.
An ninh truyền thông có thé ứng dụng cho nhiều lĩnh vực, bao gồm mang máy tính, truyền thông đám mây, truyền thông di động và các hệ thống truyền thông khác. Một số mỗi đe dọa chính đối với an ninh truyền thông bao gồm tan công mạng, đánh cắp dữ liệu, tin tặc, phan mềm độc hại và tin tức giả mạo. Dé tranh luận về những cơ sở nguy hiểm này, các tổ chức và cá nhân cần phát triển các biện pháp bảo mật như mã hóa đữ liệu, kiểm soát quyền truy cập, phát hiện xâm nhập và giáo dục người dùng về an ninh mạng. An ninh truyền 10 thông không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn liên quan đến chính trị, pháp lý và đạo đức.
Nó đòi hỏi sự hợp tác giữa các bên liên quan, bao gồm cả doanh nghiệp, chính phủ, tô chức phi lợi nhuận và cộng đồng người dùng, để đảm bảo một môi trường truyền thông an toàn và bảo mật. Tại Khoản 22 Điều 3 N ghị định 72/2013/NĐ-CP nêu rõ: Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dich vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác. Theo định nghĩa nay, mạng xã hội còn được gọi là social network và có thê hiểu một cách đơn giản đây là hệ thống (mạng lưới) giúp con người kết nối với những người khác. Thông qua mạng xã hội, mọi người có thê chia sẻ thông tin, hình ảnh, âm thanh.
tìm kiếm bạn bè, kết nối với những người khác. An ninh truyền thông mạng xã hội đề cập đến các biện pháp, quy trình và công nghệ nhằm bảo vệ thông tin, dữ liệu và sự riêng tư của người dùng trên các nền tảng mạng xã hội. Điều này bao gồm việc bảo vệ thông tin cá nhân khỏi truy cập trái phép và lam dụng, ngăn chặn các cuộc tan công mạng như phishing va malware, và quản lý quyền truy cập của người dùng và các ứng dụng bên thứ ba. Ngoài ra, an ninh truyền thông mạng xã hội còn tập trung vào việc kiểm soát và giám sát nội dung dé ngăn chặn thông tin sai lệch, tin giả, và các nội dung có hại khác.
Nâng cao nhận thức người dùng về các nguy cơ an ninh và hướng dẫn họ cách bảo vệ thông tin cá nhân cũng là một phan quan trọng của an ninh mạng xã hội. Cuối cùng, việc thiết lập các quy trình dé phát hiện, phản ứng và khắc phục sự cô an ninh một cách nhanh chóng và hiệu qua cũng góp phần quan trọng vào việc đảm bảo một môi trường mạng xã hội an toàn và đáng tin cậy. An ninh truyền thông mạng xã hội đòi hỏi sự kết hợp giữa công nghệ tiên tiễn và sự hợp tác của người dùng dé xây dung một hệ thống bảo mật mạnh mẽ và hiệu quả. Theo Nghị định 25/2014/NĐ-CP quy định về phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao.
Theo đó, tội phạm có sử dụng công nghệ cao là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự có sử 11 dụng công nghệ cao.