CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHAI THÁC HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Một số vấn đề cơ bản về hoạt động quản lý 1.1- Khái niệm về quản lý Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và kháng thể quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động. Quản lý là một phạm trù với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn. Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động, bất kỳ một hoạt động nào mà do một tổ chức thực hiện đều cần có sự quản lý dù ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân thực hiện những chức năng chung. Quản lý có thể được hiểu là các hoạt động nhằm bảo đảm hoàn thành công việc qua nỗ lực của người khác.2- Cơ chế quản lý Cơ chế quản lý là sản phẩm chủ quan của hoạt động quản lý sản xuất.
Hiệu quả của nó đến đâu còn tùy thuộc vào sự nắm bắt quy luật và trình độ tổ chức quản lý để đảm bảo yêu cầu cao nhất đó là sự đồng bộ phối hợp nhịp nhàng và nhạy bén. Cơ chế quản lý là những quy định quản lý các bộ phận quản lý và các mối quan hệ về nhiệm vụ, quyền hạn của từng người từng bộ phận nhằm hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức.3- Phương pháp và nguyên tắc xây dựng cơ chế quản quản lý a. Các nguyên tắc hoàn thiện cơ chế quản lý - Thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp và sự thống nhất, thông suốt từ trung ương đến địa phương, từ cấp cao đến cấp thấp. - Tinh gọn, hợp lý, hiệu lực, phù hợp với từng địa phương, khu vực với quy mô, phạm vi, tính chất, đặc điểm của từng công trình.
- Bảo đảm sự mềm dẻo, linh hoạt và thích nghi nhanh với sự thay đổi của môi trường kinh doanh và đặc điểm tổ chức sản xuất nông nghiệp. - Có phạm vi kiểm soát hữu hiệu, không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. 4 - Bảo đảm hiệu quả, huy động triệt để sự phối hợp của các thành phần kinh tế, người hưởng lợi và bộ máy chính quyền các cấp. Các phương pháp đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý + Phương pháp mô phỏng: Phương pháp mô phỏng là phương pháp dựa vào các cơ chế quản lý đã thành công, gạt bỏ những yếu tố bất hợp lý không phù hợp để xây dựng hoặc hoàn thiện cơ chế hiện có.
Ưu điểm của phương pháp này nhanh gọn, hao phí ít thời gian và tiền bạc cho công tác nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc các kinh nghiệm đã có. Nhược điểm đòi hỏi phải tập hợp được nhiều thông tin, có năng lực tổ chức quản lý giỏi, biết phân tích xem xét để tránh các sao chép máy móc, không phù hợp. + Phương pháp phân tích: Phương pháp phân tích theo yếu tố là phương pháp khoa học, được ứng dụng rộng rãi ở mọi cấp mọi đối tượng quản lý. Xuất phát từ mục tiêu nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động, đặc điểm sản phẩm thị trường, các yếu tố và điều kiện môi trường kinh doanh, quy trình và công nghệ sản xuất, quy trình tiêu thụ sản phẩm và các đối tác có liên quan.
Trên cơ sở đó nghiên cứu phác thảo cơ chế tổ chức quản lý, số cấp quản lý và số bộ phận quản lý phù hợp. Ưu điểm của phương pháp này là bộ máy quản lý được nghiên cứu xây dựng công phu có cơ sở khoa học, bộ máy được hình thành trên cơ sở nhiệm vụ sản xuất nên phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp do đó hoạt động của nó sẽ tốt và nhịp nhàng. Nhược điểm là đòi hỏi phải đầu tư nghiên cứu thỏa đáng nên tốn thời gian và chi phí.4- Các yếu tố quyết định hiệu quả và bền vững của công trình thủy lợi Trình độ quản lý, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý và trình độ nhận thức của nhân dân là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến tính bền vững và hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi. * Tác dụng của nước đến công trình thủy lợi - Tác dụng cơ học của nước tới công trình thủy lợi là áp lực nước ở dạng tĩnh hoặc động.
Trong đó, áp lực thủy tĩnh thường là lớn nhất và thường đóng vai trò quyết định đến điều kiện làm việc và ổn định của công trình. - Tác dụng lý, hóa học của nước thể hiện ở nhiều dạng khác nhau như dòng nước có thể bào mòn công trình, đặc biệt khi dòng nước có lưu tốc lớn và nhiều bùn cát. Ở nơi có lưu tốc lớn và do kết cấu công trình thủy lợi có thể sinh ra lưu vực chân không, gây hiện tượng xâm thực bề mặt công trình. Các bộ phận làm 5 bằng kim loại có thể bị rỉ, phần bê tông có thể bị nước thấm xâm thực.
Dưới tác dụng của dòng nước làm cho nền công trình có thể bị sói mòn cơ học, hóa học lôi cuốn đất làm rỗng nền, hoặc hòa tan các chất trong nền có thạch cao, muối và các chất hòa tan khác. - Tác dụng sinh học của nước: Các sinh vật có thể bám vào các công trình thủy lợi làm mục nát gỗ, bêtông, đá, mối làm rỗng thân đê, thân đập, làm sập nền công trình. * Điều kiện tại chỗ có liên quan chặt chẽ tới xây dựng công trình thủy lợi - Điều kiện thiên nhiên như địa hình, địa vật, địa chất, khí tượng thủy văn…có ảnh hưởng sâu rộng và nhiều mặt hơn bất kỳ loại công trình xây dựng nào. Những yếu tố tự nhiên ấy nhiều khi có ảnh hưởng quyết định đến quy mô, hình thức kết cấu, điều kiện làm việc lâu dài của công trình thủy lợi.
- Trong thiên nhiên, sự tổng hợp các điều kiện không nơi nào giống nhau cho nên hầu như công trình thủy lợi nào cũng có những đặc điểm riêng. Thực tế xây dựng công trình thủy lợi do tài liệu thủy văn không đầy đủ, không chính xác nên công trình thủy lợi được xây dựng nhưng khả năng tháo lũ không đủ, gây nguy hiểm khi lũ lớn, nhiều trạm thủy điện không chạy đủ công suất. *Yếu tố tổ chức quản lý và sử dụng Là hình thức tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi dưới hình thức hợp tác xã dùng nước hay nhóm hộ dùng nước, sự kết hợp giữa quản lý của chính quyền địa phương với cộng đồng, sự đồng nhất giữa người quản lý và người sử dụng công trình. * Yếu tố xã hội Bao gồm các đặc điểm và các yếu tố xã hội liên quan đến người sử dụng như tính cộng đồng, trình độ kỹ thuật, tập quán canh tác của nông dân.
Đặc biệt những người dễ bị tổn thương có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản lý và sử dụng công trình thủy lợi. * Yếu tố kỹ thuật Bao gồm các công nghệ được áp dụng vào công trình thủy lợi như tưới tiêu tự chảy hay bơm đẩy, tưới ngầm, tưới tràn hay tưới phun. * Điều kiện thi công 6 Các công trình thủy lợi vô cùng phức tạp, địa điểm xây dựng thường là ở ngay lòng sông, lòng suối, luôn luôn bị nước lũ, nước ngầm uy hiếp, vấn đề dẫn dòng, tháo lũ, giải quyết nước ngầm, hố móng ở sâu xử lý nền móng phức tạp kéo dài, nên có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả khai thác và sử dụng công trình. Một số kinh nghiệm về quản lý khai thác công trình thủy lợi trong và ngoài nước 1.
Thực tiễn quản lý và khai thác công trình thủy lợi ở một số tỉnh điển hình a. Kinh nghiệm trong quản lý và khai thác các công trình thủy lợi của huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi Trạm quản lý thủy nông số 2 nhờ làm tốt công tác QLKT có hiệu quả các CTTL nên không những đảm bảo cung cấp nước phục vụ sản xuất, làm tăng năng suất, sản lượng cây trồng góp phần đáng kể trong việc thực hiện chuyển dịch mùa vụ và cơ cấu cây trồng mà còn đảm bảo nguồn lực tài chính để duy tu bảo dưỡng và nâng cấp các công trình thủy nông trên địa bàn. Trạm quản lý thủy nông số 2 là đơn vị trực thuộc Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Quảng Ngãi, có nhiệm vụ quản lý và khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất và thu thủy lợi phí trên 43 tuyến kênh cấp I, cấp II với tổng chiều dài hơn 185 km phục vụ nước tưới cho gần 10 nghìn ha đất canh tác mỗi năm. Để đạt được kết quả này, hàng năm trên cơ sở chỉ tiêu kế hoạch công ty giao, trạm thủy nông số 2 của huyện lập kế hoạch chi tiết giao khoán cho từng cụm sản xuất.
Trong đó, các chỉ tiêu khoán cơ bản là: khoán diện tích tươi, khoán thu thủy lợi phí, khoán quản lý kênh và bảo vệ công trình thủy lợi được đưa ra thảo luận công khai và có quy chế trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên trong đơn vị. Để làm tốt nhiệm vụ này, hàng năm Trạm thực hiện việc phô tô bản đồ giải thửa ở từng tuyến kênh giao cho từng vụ sản xuất. Công nhân quản lý từng tuyến kênh dựa theo bản đồ này để khoanh vùng khép kín diện tích, số thửa để tạo cơ sở cho việc ký kết hợp đồng cung cấp nước và nghiệm thu diện tích tưới. Trạm thủy nông huyện còn quy định trách nhiệm cho từng cán bộ, công nhân quản lý kênh phải thực hiện đầy đủ công tác quan trắc, kiểm tra để kịp thời xử lý các sự cố, theo dõi mực nước và nhu cầu sử dụng nước để điều tiết nguồn nước một cách hợp lý, đồng thời khống chế tưới đối với diện tích bị cá nhân tập thể không ký hợp đồng sử dụng nước hoặc hợp đồng không đúng, không đủ diện tích được tưới trên thực tế.
Đối với những vùng có khả năng tự khai thác nguồn nước tưới, 7 Trạm tiến hành làm việc với các địa phương và HTX DVNN ở địa phương để hướng dẫn kỹ thuật cho địa phương huy động nhân dân làm kênh mương dẫn nước. Nhờ làm cách đó mỗi năm ở huyện Sơn Tĩnh có thêm từ 7 - 10% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp được chủ động nguồn nước tưới.