CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1. Hệ thống công trình thủy lợi và vai trò của nó đối với nền kinh tế quốc dân 1. Khái niệm hệ thống công trình thủy lợi 1. Khái niệm công trình thủy lợi Theo điều 2 của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình, “Công trình thuỷ lợi" là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại [11].
Khái niệm hệ thống công trình thủy lợi Theo điều 2 của Thông tư số 65/2009/TT-BNNPTNT ngày 12/10/2009 của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn (PTNT) hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý, khai thác công trình thủy lợi, hệ thống công trình thủy lợi được khái niệm như sau: Hệ thống công trình thuỷ lợi là tập hợp các công trình thuỷ lợi có liên quan trực tiếp với nhau trong quản lý, vận hành và bảo vệ trong một lưu vực hoặc một khu vực nhất định [12]. Hệ thống công trình thuỷ lợi liên tỉnh là hệ thống công trình thuỷ lợi có liên quan hoặc phục vụ tưới, tiêu, cấp nước cho tổ chức, cá nhân hưởng lợi thuộc 2 tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương trở lên. Hệ thống công trình thuỷ lợi liên huyện là hệ thống công trình thuỷ lợi có liên quan hoặc phục vụ tưới, tiêu, cấp nước cho tổ chức, cá nhân hưởng lợi thuộc 2 huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương trở lên. Hệ thống công trình thuỷ lợi liên xã là hệ thống công trình thuỷ lợi có liên quan hoặc phục vụ tưới, tiêu, cấp nước cho tổ chức, cá nhân hưởng lợi thuộc 2 xã hoặc đơn vị hành chính tương đương trở lên.
Vai trò của hệ thống công trình thủy lợi đối với nền kinh tế quốc dân của nước ta Thủy lợi là một trong những cơ sở hạ tầng thiết yếu để ổn định và từng bước nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân. Thiết lập những tiền đề cơ bản và tạo ra môi trường thuận lợi, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Ngày 10/05/1999, Quốc hội đã thảo luận về báo cáo của Chính phủ cho rằng: “có đi vay nước ngoài cũng phải đầu tư cho thủy lợi”. Đầu tư cho thủy lợi vừa để kích cầu vừa để phát triển kinh tế, kinh nghiệm cho thấy ở đâu có thủy lợi thì ở đó có sản xuất phát triển và đời sống nhân dân ổn định.
Thủy lợi thực hiện tổng hợp các biện pháp sử dụng các nguồn lực của nước trên mặt đất dưới mặt đất để phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt nông thôn, đồng thời hạn chế tác hại của nước gây ra cho sản xuất và sinh hoạt của nông dân. Như vậy, thủy lợi hóa là một quá trình lâu dài nhưng có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển nền nông nghiệp nước ta. Cho đến nay, Việt Nam cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp, nông nghiệp là khu vực sản xuất vật chất chủ yếu thu hút tới 70,5% lực lượng lao động xã hội và làm ra khoảng 23,6% GDP. Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, lâm nghiệp, ngư nghiệp… tất cả các hoạt động này đều rất cần có nước.
Vì vậy nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nếu như thời tiết khí hậu thuận lợi thì đó là môi trường thuận lợi để nông nghiệp phát triển nhưng khi gặp những thời kỳ mà thiên tai khắc nghiệt như hạn hán, bão lụt thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống của nhân dân ta đặc biệt đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung và cây lúa nói riêng, bởi vì lúa là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta. Trong những năm qua, cùng với tiến trình phát triển kinh tế, xã hội, chúng ta đã đầu tư xây dựng nhiều công trình, hệ thống công trình thuỷ lợi lớn, nhỏ, hình thành nên một hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng hết sức to lớn, quan trọng phục vụ đa mục tiêu tưới tiêu cho nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, cắt lũ, giao thông, phát điện, ngăn mặn giữ ngọt, du lịch., bảo đảm cho sản xuất và đời sống dân sinh. Đặc biệt, thuỷ lợi đã góp phần ổn định sản xuất, giữ vững và nâng cao năng suất sản lượng cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực, xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, đưa nước ta từ một nước thiếu 2 lương thực, trở thành một nước không chỉ ổn định lương thực mà còn có vượt nhu cầu trong nước để trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới. Có thể nói rằng, hệ thống các công trình thủy lợi có một vị trí vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội, góp phần đảm bảo đời sống an sinh và bảo vệ môi trường.
Vì vậy mà hệ thống thuỷ lợi có vai trò tác động rất lớn đối với nền kinh tế của đất nước ta như sau: 1. Đảm bảo tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp Nhờ có hệ thống thuỷ lợi mà có thể cung cấp nước cho những khu vực bị hạn chế về nước tưới tiêu cho nông nghiệp đồng thời khắc phục được tình trạng khi thiếu mưa kéo dài và gây ra hiện tượng mất mùa mà trước đây tình trạng này là phổ biến. Sự phát triển của hệ thống thủy lợi đã cung cấp đủ nước cho đồng ruộng làm tăng năng suất của cây trồng và khảnăng tăng vụ. Hiện nay do sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên ngành Thủy lợi có sự phát triển đáng kể và góp phần vào vấn đề xóa đói giảm nghèo, sản lượng cây trồng tăng đã đưa Việt Nam trở thành nước đứng thứ 2 trên Thế giới về xuất khẩu gạo.
Nhờ có hệ thống thủy lợi làm tăng năng suất cây trồng đã tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp, làm tăng giá trị tổng sản lượng của nước ta nói riêng và khu vực nói chung. Góp phần phát triển du lịch sinh thái Các công trình thủy lợi, đặc biệt là các hồ chứa nước luôn được tận dụng và kết hợp để phát triển du lịch (như các hồ Núi Cốc, Tuyền Lâm, Cửa Đạt, Kẻ Gỗ, Đồng Mô, Suối Hai, Đại Lải, Đầm Vạc,.), một số sân đánh gôn, các nhà nghỉ cũng được xây dựng quanh các hồ thuỷ lợi Đại Lải, Xạ Hương, Đồng Mô,. Một số hệ thống thủy lợi cũng được kết hợp thành tuyến giao thông - du lịch. Ngoài ra, các công trình thuỷ lợi còn cấp, thoát nước cho các làng nghề du lịch,… 3.
Phục vụ phát triển công nghiệp, thủy điện Các công trình thuỷ lợi thông qua hệ thống kênh mương, đã trực tiếp hoặc gián tiếp cung cấp nước, tiêu thoát nước cho phát triển công nghiệp, các làng nghề. Nhiều công 3 trình hồ chứa thuỷ lợi đã kết hợp cấp nước cho thuỷ điện như các hồ: Cửa Đạt, Núi Cốc, Cấm Sơn, Khuôn Thần, Tà Keo, Yazun hạ,. Phục vụ phát triển diêm nghiệp Các hệ thống thuỷ lợi đóng vai trò rất quan trọng cho việc sản xuất muối thông qua hệ thống kênh mương dẫn lấy nước biển vào các cánh đồng sản xuất muối, hệ thống cống, bờ bao ngăn ngừa nước lũ tràn vào đồng muối phá hoại các công trình nội đồng, góp phần tiêu thoát nước mưa và nhanh chóng tháo nước ngọt ra khỏi đồng muối. Cấp nước sinh hoạt và đô thị Công trình thủy lợi trực tiếp lấy nước từ các hồ chứa và công trình đầu mối, thông qua hệ thống kênh mương dẫn cấp cho các khu dân cư, đô thị đảm bảo cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho dân sinh.
Hệ thống công trình lấy nước từ Hồ Hòa Bình về cấp cho Hà Nội là một công trình tiêu biểu về cấp nước đô thị. Phục vụ nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi Các công trình thủy lợi luôn đóng vai trò phục vụ tích cực, có hiệu quả cấp thoát nước cho nuôi trồng thuỷ sản, cung cấp mặt nước cho nuôi trồng thủy sản (các hồ chứa). Hệ thống thủy lợi còn là môi trường, là nguồn cung cấp nước và tiêu thoát nước cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy cầm, cấp nước tưới cho các đồng cỏ chăn nuôi, cấp, thoát nước cho các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm,… 7. Phục vụ phát triển lâm nghiệp, giao thông Các công trình thuỷ lợi tại các tỉnh miền núi, trung du, Tây nguyên và đông Nam bộ, cấp nước, giữ ẩm cho các vườn ươm cây, cung cấp nước bảo vệ phòng chống cháy rừng, phát triển rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn.
Các bờ kênh mương, mặt đập dâng, đập hồ chứa, cầu máng được tận dụng kết hợp giao thông đường bộ. Hồ chứa, đường kênh tưới tiêu được kết hợp làm đường giao thông thủy được phát triển mạnh ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Góp phần phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường Các công trình thủy lợi có tác dụng phòng chống úng ngập cho diện tích đất canh tác và làng mạc, đặc biệt là những vùng trũng, góp phần cải tạo và phát triển môi trường sinh thái, cải thiện đời sống nhân dân. Điều tiết nước trong mùa lũ để bổ sung cho mùa 4 kiệt, chống lại hạn hán, chống xa mạc hóa, chống xâm nhập mặn,… Hệ thống đê sông, đê biển, công trình bảo vệ bờ, hồ chứa có tác dụng phòng chống lũ lụt từ sông biển, chống xói lở bờ sông, bờ biển,… Ngoài ra các công trình thủy lợi còn điều tiết nước giữa mùa lũ và mùa kiệt, làm tăng lượng dòng chảy kiệt, dòng chảy sinh thái cho sông ngòi, bổ sung nguồn cho nước ngầm.
Công trình thủy lợi có vai trò to lớn trong việc cải tạo đất, giúp đất có độ ẩm cần thiết để không bị bạc màu, đá ong hoá, chống cát bay, cát nhảy và thoái hóa đất. Các hồ chứa có tác động tích cực cải tạo điệu kiện vi khí hậu của một vùng, làm tăng độ ẩm không khí, độ ẩm đất, tạo nên các thảm phủ thực vật chống xói mòn, rửa trôi đất đai. Các mặt hiệu quả mà hệ thống công trình thủy lợi mang lại đối với nền kinh tế quốc dân của nước ta Là một nước nông nghiệp, từ hàng nghìn năm nay, cuộc sống của người dân Việt Nam gắn liền với các công việc về thủy lợi.