phần mở đầu, kết luận luận văn gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh Hà Tây Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh Hà Tây 6 CHƢƠNG 1 HUY ĐỘNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢỜNG MẠI 1.1 HUY ĐỘNG VỐN TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm huy động vốn trong Ngân hàng thƣơng mại Huy động vốn trong Ngân hàng thƣơng mại là hoạt động mà Ngân hàng thƣơng mại nhận tiền gửi từ ngƣời gửi tiền, các chủ thể cho vay để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh, đầu tƣ. Vốn huy động đƣợc coi nhƣ một khoản nợ của Ngân hàng thƣơng mại.[3] Đ c điểm nguồn vốn huy động Tỷ trọng vốn huy động thƣờng chiếm 70- 80% tổng nguồn vốn, đây là công cụ tài chính để mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng và tạo uy tín đối với khách hàng. Ngân hàng đối với nguồn vốn huy động chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu.
Bản chất thì vốn huy động chính là những khoản nợ mà ngân hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn ho c có nhu cầu rút trƣớc hạn Ngân hàng luôn phải thực hiện dự trữ bắt buộc đối với nguồn vốn huy động, mức độ dự trữ phụ thuộc vào kỳ hạn gửi tiền của khách hàng. Điều này làm đảm bảo hơn khả năng thanh khoản cho ngân hàng khi có khách hàng rút tiền trƣớc hạn, tuy nhiên c ng làm tăng chi phí huy động, và ngân hàng phải đóng thêm khoản phí bảo hiểm tiền gửi. Vốn huy động là nguồn vốn rất nhạy cảm với các biến động của thị trƣờng nhƣ: lãi suất, giá vàng, giá bất động sản… Ngƣời dân gửi tiền và nhận lãi, họ luôn muốn giá trị mình nhận lại cao hơn. Hơn nữa, khác với những hàng hóa khác, khi gửi tiền vào ngân hàng dù với bất kỳ kỳ hạn gửi tiền nào thì khách hàng vẫn có thể rút ra khi họ muốn.
Nếu nhƣ đang gửi ở NHTM này 7 mà thấy NHTM khác lãi suất cao hơn hay chính sách tốt hơn thì họ có thể s n sàng chuyển số tiền sang nơi có lãi suất cao hơn. Ho c khi thị trƣờng vàng, bất động sản có những chuyển biến tích cực, có khả năng sinh lời cao hơn thì họ c ng có tâm lý chuyển đổi kênh đầu tƣ. Những điều này làm ảnh hƣởng rất lớn đến quy mô huy động vốn của các ngân hàng.2 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Huy động tiền gửi Đây là hình thức huy động vốn mà ngân hàng huy động đƣợc từ các tổ chức kinh tế, các nhân,.trong xã hội thông qua hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm, thanh toán hộ, các khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghiệp vụ kinh doanh khác. Các hình thức nhận tiền gửi của các NHTM mại tuỳ thuộc vào các tiêu thức khác nhau mà đƣợc chia thành từng loại khác nhau: a) Phân loại theo tiêu thức kỳ hạn.
- Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định, ngƣời gửi có thể rút ra bất kỳ l c nào do đó lãi suất thƣờng thấp.Tiền gửi không kỳ hạn là một trong những nguồn vốn biến động nhiều nhất và ngân hàng khó có thể dự báo về quy mô tiền gửi không kỳ hạn (giao dịch) có thể huy động. Hình thức này chủ yếu là mở cho các doanh nghiệp. Bởi vì, các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng mục đích chính không phải để nhận lãi mà là để hƣởng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp; đó là các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, thu chi hộ,. Tuy nhiên, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có thể đáp ứng nhu cầu của những khách hàng chƣa có dự định rõ ràng trong tƣơng lai, ho c không thực sự an tâm về việc gửi tiền mà chỉ mong muốn nhận đƣợc một số tiền lãi nào đó với lƣợng tiền hiện còn nhàn rỗi.
Do tính chất không ổn định của nó nên ngân hàng chỉ đƣợc sử dụng một tỷ lệ phần trăm nhất định nào đó của lƣợng tiền gửi không kỳ hạn nhận đƣợc, và ngân hàng muốn sử dụng thì phải dự tính về sự ổn định 8 tƣơng đối của lƣợng tiền này. Do vậy, quản lý tiền gửi không kỳ hạn là một phần quan trọng của quản lý dự trữ trong các ngân hàng. - Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận giữa ngƣời gửi tiền và ngân hàng về số lƣợng, kỳ hạn, lãi suất của khoản tiền gửi. Do có sự xác định rõ ràng về kỳ hạn, nên nguồn tiền gửi có kỳ hạn là nguồn tiền có sự ổn định cao, ngân hàng có thể sử dụng để cho vay với thời hạn tƣơng ứng ho c có thể chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung dài hạn.
Chính vì lý do này mà lãi suất của các khoản tiền gửi kỳ hạn thƣờng cao hơn nhiều lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Bởi vì mục đích chính của việc gửi tiền vào ngân hàng là tiền lãi. Thông thƣờng thì lãi suất tỷ lệ thuận với kỳ hạn, tức là khoản tiền gửi càng lâu thì lãi suất càng cao và ngƣợc lại. b) Phân loại theo tiêu thức mục đích sử dụng.
- Tiền gửi tiết kiệm: Phần lớn là các khoản ký gửi của các cá nhân với mục đích là tìm kiếm một khoản thu nhập. Thƣờng thì mỗi khoản tiền gửi tiết kiệm có khối lƣợng nhỏ, thời hạn ngắn. Những ngƣời gửi tiền tiết kiệm là những đối tƣợng giảm chi tiêu trong hiện tại với hy vọng là sẽ tăng đƣợc chi tiêu trong tƣơng lai. - Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: oại hình này khá phổ biến ở các nƣớc phát triển, thƣờng đƣợc sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình.
Ngƣời gửi để dành một khoản tiền gửi vào ngân hàng thƣờng là các khoản tiết kiệm đều đ n hàng năm với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích nhất định. Đây là hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, có tính ổn định, đồng thời có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho ngƣời dân mua sắm nhà cửa, phƣơng tiện. - Tiền gửi thanh toán: Là khoản ký gửi của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Họ gửi tiền mục đích không phải là để hƣởng thu nhập mà là hƣởng các dịch vụ của ngân hàng.
Thông thƣờng các khoản 9 tiền gửi thanh toán có khối lƣợng lớn. Do đó, khi các khoản tiền này tạm thời chƣa sử dụng thì ngân hàng có thể sử dụng vào kinh doanh. c) Phân loại theo tiêu thức loại tiền gửi. - Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi quan trọng của các ngân hàng, nó phụ thuộc vào thu nhập trong nƣớc và chiếm tỷ trong rất lớn trong tổng lƣợng tiền gửi.
- Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh tiền gửi nội tệ thì ngân hàng còn nhận tiền gửi dƣới dạng ngoại tệ nhƣ USD, GBP, DEM,. những khoản ngoại tệ này c ng rất quan trọng cho hoạt động ngân hàng nhƣ kinh doanh ngoại tệ trong nƣớc, tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tê,.2 Phát hành giấy tờ có giá và đi vay a, Phát hành giấy tờ có giá Phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại mà bản chất là phát hành các giấy nhận nợ, xác định ngh a vụ trả nợ của ngân hàng đối với khách hàng, bao gồm ba hình thức chủ yếu là kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi. Trong nghiệp vụ này, các NHTM chủ động đứng ra gom vốn trong xã hội bằng việc phát hành các giấy tờ có giá nhằm bổ sung nguồn vốn kinh doanh. Thông thƣờng việc phát hành đƣợc thực hiện sau khi đã tiến hành lên cân đối toàn hệ thống của NHTM giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.
Kỳ phiếu ngân hàng là giấy nhận nợ ngắn hạn mà NHTM phát hành để huy động vốn dƣới 1 năm. Kỳ phiếu đƣợc phát hành từng đợt và có thời hạn linh hoạt, tính thanh khoản cao. Nhu cầu phát hành kỳ phiếu thƣờng đƣợc phát sinh khi ngân hàng muốn có nguồn vốn đủ điều kiện để tài trợ cho những dự án có quy mô, trọng điểm nhằm phục vụ kịp thời cho đầu tƣ, phát triển của đất nƣớc ho c vì mục đích kinh doanh của ngân hàng nhƣ: Đầu tƣ chứng khoán, kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ mà các nguồn huy động khác chƣa đáp ứng đầy đủ và kịp thời. 10 Trái phiếu ngân hàng là chứng thƣ xác nhận khoản nợ của ngân hàng phát hành đối với ngƣời sở hữu dùng để huy động vốn trung và dài hạn.
Trái phiếu đƣợc phát hành với quy mô lớn, đồng loạt trên toàn hệ thống ngân hàng. Trái phiếu ngân hàng đa dạng, lãi suất hấp dẫn và tính thanh khoản cao. Chính vì vậy đây là một nguồn vốn huy động có tính ổn định cao nhất để ngân hàng có thể chủ động trong việc sử dụng vốn, tuy nhiên đây c ng là nguồn phải chi trả lãi cao, cao hơn các loại hình huy động vốn khác. Chứng chỉ tiền gửi giống nhƣ một khoản tiền gửi có kỳ hạn, ngƣời sở hữu sẽ đƣợc hƣởng lãi suất định kỳ trong thời hạn 12 tháng và đƣợc hoàn gốc khi đến hạn, chứng chỉ tiền gửi đƣơc phép mua bán trên thị trƣờng.
Thời hạn của chứng chỉ tiền gửi rất đa dạng nhƣ: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, ho c có thể lên tới 5 năm, 7 năm… ãi suất của chứng chỉ tiền gửi đƣợc ngân hàng ấn định dựa trên lãi suất cạnh tranh của thị trƣờng tiền tệ, thời hạn chứng chỉ và tình trạng tài chính của ngân hàng. Các NHTM nhận thấy rằng, ngƣời gửi tiền rất nhạy cảm với những thay đổi trong lãi suất của ngân hàng. Vì vậy khi cần vốn, một NHTM có thể phát hành giấy tờ có giá với lãi suất hấp dẫn hơn các loại nghiệp vụ huy động thông thƣờng khác nhằm huy động đƣợc kịp thời lƣợng vốn cần thiết. Thông thƣờng, phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn theo sang kiến riêng của từng ngân hàng với hình thức và kỳ hạn rất đa dạng nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng và huy động đƣợc vốn cho ngân hàng.