chương 1 sẽ giới thiệu các lý thuyết có liên quan đến đề tài như thương hiệu, giá trị thương hiệu, các thành phần của giá trị thương hiệu. Thương hiệu Hiện nay, khi đề cập đến thương hiệu thì có nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng nhìn chung có hai quan điểm chính là quan điểm truyền thống và quan điểm tổng hợp (Thọ, 2002) Theo quan điểm truyền thống thì nổi bật có hai định nghĩa về thương hiệu của Hiệp hội Marketing Mỹ và của Philip Kotler. Cụ thể như sau: - Đối với Hiệp hội Marketing Mỹ thì “Thương hiệu là tên, biểu tượng, ký hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các thương hiệu đối thủ cạnh tranh” (Thọ, 2002, trang 11) - Đến những 80 của thế kỷ trước thì Philip Kotler đề cập đến thương hiệu trong cuốn sách Quản trị tiếp thị, theo Philip Kotler “Thương hiệu là một cái tên, thuật ngữ, chữ ký, dấu hiệu hay một sự kết hợp các yếu tố trên có tác dụng định vị sản phẩm/ dịch vụ của một người bán/ nhóm người bán và khác biệt hóa họ so với đối thủ cạnh tranh.” (Philip Kotler, 2012, trang 286 ) Nhìn chung, đối với quan điểm truyền thống thì thương hiệu là một thành phần của sản phẩm.
Các yếu tố của thương hiệu chỉ gồm những thành phần hữu hình như tên gọi, kiểu dáng, biểu tượng,…mà không xem xét đến các thành phần vô hình như danh tiếng, uy tín,…của sản phẩm, nhà sản xuất. Và theo quan điểm này thì chức năng chính của thương hiệu là phân biệt sản phẩm của mình so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh (Arnold, 1992) 6 Ta thấy có rất nhiều những hiện tượng thương hiệu rất khó lý giải nếu sử dụng lý thuyết thương hiệu theo quan điểm truyền thống, ví dụ như: tại sao giá trị thương hiệu thay đổi theo thời gian ngay khi các yếu tố hữu hình của thương hiệu lại không thay đổi? Hay nhượng quyền thương hiệu có giá khác nhau với các khách hàng khác nhau và mức độ thành công của họ cũng khác nhau. Do đó, cuối thế kỷ 20 quan điểm tổng hợp ra đời và được áp dụng vào thực tiễn cho đến ngày nay. Với quan điểm tổng hợp thì thương hiệu không đơn giản chỉ là một cái tên hay một biểu tượng mà thực sự nó còn phức tạp hơn rất nhiều.
“Thương hiệu là tập hợp các yếu tố vật chất, thẩm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm, hoặc một dòng sản phẩm, bao gồm chính sản phẩm đó, tên gọi, logo, biểu tượng và mọi sự thể hiện hình ảnh, dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng nhằm thiết lập một vị trí trong tâm trí của khách hàng” (Richard Moore, 2003, trang 7). Thương hiệu là tổng hợp các đặc điểm cung cấp cho khách hàng mục tiêu những giá trị mà họ mong muốn (Tuominen và ctv, 1999). Các thuộc tính này bao gồm cả yếu tố hữu hình và vô hình để phân biệt hàng hóa/ dịch vụ khác nhau hoặc phân biệt các nhà sản xuất khác nhau với các đối thủ cạnh tranh. Như vậy, quan điểm tổng hợp cho rằng sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng (Thọ, 2002).
Theo Hankinson và Cowking (1996) cho rằng sản phẩm chỉ cung cấp cho người tiêu dùng lợi ích chức năng nhưng thương hiệu mới cung cấp cho người tiêu dùng cả lợi ích chức năng và lợi ích tâm lý. Tóm lại, thương hiệu được hiểu là tập hợp tất cả các yếu tố hữu hình và vô hình mà khách hàng cảm nhận được qua việc sử dụng sản phẩm/ dịch vụ hay qua truyền thông từ nhà cung cấp nhằm phân biệt sản phẩm/ dịch vụ của mình so với đối thủ cạnh tranh. Thương hiệu là yếu tố quan trọng trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng. Thương hiệu đại diện cho nhận thức và cảm nhận của người tiêu dùng về một sản phẩm và thương hiệu thể hiện tất cả những gì sản phẩm hay dịch vụ truyền đạt đến người tiêu dùng.
Xét đến cùng, thương hiệu hiện diện trong tâm trí của người tiêu dùng. Do đó, Stephen King của tập đoàn WPP Group, Lodon đã từng phát biểu: “Sản phẩm là cái được sản xuất tại nhà máy, thương hiệu 7 là cái được tạo ra bởi khách hàng. Một sản phẩm có thể bị sao chép bởi đối thủ cạnh tranh nhưng một thương hiệu là duy nhất. Một sản phẩm có thể nhanh chóng lỗi thời, một thương hiệu thành công là vô tận”.
Giá trị thương hiệu Nếu thuật ngữ “thương hiệu” xuất hiện khá sớm trên thế giới thì đến những năm 80 thuật ngữ “giá trị thương hiệu” mới được xuất hiện. Ngay sau đó, giá trị thương hiệu rất được các nhà nghiên cứu quan tâm, tiêu biểu có Aaker đề cập trong tác phẩm nổi tiếng của mình, tiếp theo sau có một số tác giả nổi tiếng như Srivastava và Shocker (1991), Keller (1993, 1998) vẫn tiếp tục nghiên cứu vấn đề này. Đối với lĩnh vực marketing, giá trị thương hiệu là khái niệm quan trọng và được xem xét như là tài sản vô hình có giá trị đối với công ty (Erenkol và Duygun, 2010). Theo Kotler (2012), giá trị thương hiệu có ảnh hưởng đặc biệt mà việc biết tên thương hiệu tác động lên phản ứng của người tiêu dùng đối với sản phẩm và việc tiếp thị sản phẩm đó.
Nó là thước đo khả năng của thương hiệu trong việc nắm bắt sở thích và lòng trung thành của người tiêu dùng. Một thương hiệu có giá trị thương hiệu cao là tài sản rất có giá trị đối với công ty. Giá trị thương hiệu cao cung cấp cho doanh nghiệp nhiều cơ hội cạnh tranh. Một thương hiệu mạnh có được độ nhận biết thương hiệu và lòng trung thành cao từ người tiêu dùng.
Khi đó doanh nghiệp có được đòn bẩy mạnh hơn trong việc thương lượng giá cả với đại lý bán lại. Bên cạnh đó, một thương hiệu có giá trị thương hiệu cao sẽ sở hữu độ tin cậy cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng triển khai dòng sản phẩm và mở rộng thương hiệu, giúp doanh nghiệp chống lại cuộc chiến giá cả. Nhưng trên tất cả, giá tri thương hiệu tạo nền tảng trong việc xây dựng mối quan hệ với khách hàng. Tương tự như thương hiệu thì giá trị thương hiệu cũng có nhiều quan điểm và cách đánh giá khác nhau.Lassar và ctv (1995) cho rằng có hai quan điểm đánh 8 giá về giá trị thương hiệu.
Thứ nhất là đánh giá theo quan điểm đầu tư (tài chính) và thứ hai là đánh giá theo quan điểm người tiêu dùng. - Theo quan điểm đầu tư (tài chính) thì giá trị thương hiệu là thu nhập mong đợi trong tương lai nhờ có thương hiệu được quy về hiện tại (Interbrand, 2001). Theo đó, giá trị tài sản thương hiệu được tách ra khỏi giá trị các tài sản khác. Qua đó, giá trị cổ phần của công ty được tách thành các tài sản hữu hình và tài sản vô hình, sau đó sẽ tiếp tục tách giá trị thương hiệu từ các tài sản vô hình (Hoàng Thị Phương Thảo và ctv, 2009).
“Nhìn chung, đánh giá thương hiệu theo quan điểm đầu tư (tài chính) đóng góp vào việc đánh giá tài sản của một công ty, tuy nhiên, nó không giúp nhiều cho nhà quản trị trong việc tận dụng và phát triển giá trị của thương hiệu. Hơn nữa, về mặt tiếp thị, giá trị tài chính của một thương hiệu là kết quả đánh giá của người tiêu dùng về giá trị thương hiệu đó” (Thọ, 2002, trang 13). Do đó, đề tài này tập trung vào quan điểm thứ hai là dựa vào người tiêu dùng. - Theo quan điểm của người tiêu dùng thì giá trị thương hiệu cũng có nhiều khái niệm.
Đối với David A.Aaker (1996) thì giá trị thương hiệu là tập hợp các giá trị có liên quan đến thương hiệu như tên, biểu tượng của thương hiệu. Những giá trị này góp phần làm gia tăng hoặc suy giảm giá trị sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp và khách hàng.Keller (1993, 1998) giá trị thương hiệu là những kiến thức, hiểu biết của khách hàng về thương hiệu, bao gồm: nhận biết thương hiệu và ấn tượng thương hiệu. Đứng trên góc độ quan điểm của người tiêu dùng thì có hai quan điểm đánh giá giá trị thương hiệu, đó là: dựa vào lý thuyết tâm lý học nhận thức và dựa vào lý thuyết tín hiệu. Theo lý thuyết tâm lý học nhận thức thì hành vi tiêu dùng thương hiệu sẽ xuất phát từ thái độ của người tiêu dùng đối với thương hiệu đó.
Còn lý thuyết tín hiệu bắt nguồn từ học thuyết kinh tế thông tin dựa trên điều kiện thông tin thị trường là nguồn thông tin không hoàn hảo và bất đối xứng (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007). Đề tài này nghiên cứu về sản phẩm bột ngọt là mặt hàng tiêu dùng trong cuộc sống nên đo lường 9 giá trị thương hiệu dựa vào người tiêu dùng (theo lý thuyết tâm lý học nhận thức) sẽ phù hợp và khách quan hơn. Các thành phần của giá trị thương hiệu 1. Mô hình đo lường giá trị thương hiệu tại thị trường Việt Nam Ta thấy giá trị thương hiệu là khái niệm phức tạp, có nhiều thành phần và trong những thành phần đó lại có nhiều thành phần con khác.
Ví dụ như mô hình của Keller (1993, 1998) đưa ra hai thành phần giá trị thương hiệu gồm: nhận biết thương hiệu và ấn tượng thương hiệu. Trong nhận biết thương hiệu thì gồm hai thành phần: nhớ đến thương hiệu, nhận ra thương hiệu. Tương tự, thành phần ấn tượng thương hiệu gồm các thành phần: thuộc tính đồng hành cùng thương hiệu, khả năng chấp nhận các thuộc tính đồng hành cùng thương hiệu, tính độc đáo của các thuộc tính đồng hành cùng thương hiệu. Trong thành phần thuộc tính đồng hành cùng thương hiệu thì gồm nhiều thành phần con khác như: thuộc tính, lợi ích, thái độ,… Điều này sẽ gây khó khăn trong việc đo lường và không phù hợp với thị trường Việt Nam khi người tiêu dùng khó có thể phân biệt và nhận biết các thành phần.
Các mô hình của Aaker (1991), Keller (1993, 1998) hay của Lassar và ctv (1995) “tuy có mức độ biểu thị giá trị thương hiệu cao nhưng mức độ thực tế không cao lắm cho các nước mà mức độ phát triển về thương hiệu chưa cao và mức độ phức tạp trong mua sắm và tiêu dùng còn thấp” (Thọ, 2002, trang 15 - 16). Nhìn chung, khái niệm về giá trị thương hiệu vẫn chưa có sự thống nhất dẫn đến sẽ có sự khác nhau giữa các thành phần tạo nên giá trị thương hiệu.