CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẦT LƯƠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Tín dụng của NHTM 1.1 Khái niêm về Tín dụng ngân hàng. SV: Trần Văn Huy 2 Lớp: NHPK15 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến Ngân hàng là nơi biểu hiện tập trung nhất mọi hoạt động kinh tế của đất nước.
Những thông tin có liên quan đến hoạt động ngân hàng luôn là mỗi quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, chính phủ và tầng lớp dân cư. NHTM là một tổ chức kinh tế, hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ. Trong đó, hoạt động tài trợ cho khách hàng trên cơ sở tín nhiệm là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận. Quy mô, chất lượng tín dụng ảnh hưởng quyết định sự tồn tại và phát triển Ngân hàng.
Với chức năng kinh doanh tiền tệ, các NHTM tham gia vào quan hệ tín dụng với hai tư cách: Là người đi vay khi nó thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn của xã hội và là người cho vay khi nó sử dụng nguồn vốn huy động được tài trờ cho các chủ thể trong nền kinh tế. Vì tính phức tạp của hoạt động tín dụng mà khi nói đến tín dụng người ta chỉ chú ý đến hoạt động cho vay mà bỏ quên mặt thứ hai của nó là đi vay. Quan hệ tín dụng mà ngân hàng đóng vai trò là người cho vay gọi là Tín dụng ngân hàng. Tín dụng ngân hàng là một khái niệm chỉ mối quan hệ kinh tế giữa bên cho vay (NHTM và các định chế tài chính khác) và bên đi vay.
Trong đó bên cho vay chuyển giao cho bên đi vay sử dụng một lượng giá trị (thường dưới hình thái tiền) trong một thời gian nhất định theo những điều kiện mà hai bên thảo thuận về thời gian, phương thức thanh toán, TSBĐ … Hay nói cách khác, tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn về vốn tiền tệ gữa hai ngân hàng và các đơn vị kinh tế, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và các tầng lớp dân cư theo nguyên tắc hoàn trả.2 Đặc trung của Tín dụng Ngân hàng Từ khái niệm về “Tín dụng ngân hàng”, ta có thể thấy được những đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng sau: Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Tín dụng thực chất là sự cung cấp một lượng giá trị trên cơ sở lòng tin. Ở đây, người cho vay luôn tin tưởng người đi vay sẽ sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả, có khả năng trả nợ và có thiện chí trả nợ cho ngân hàng trong tương lai khi hợp đồng tín dụng hết hạn. Với Ngân hàng, để có thể tin được khách hàng, họ luôn thẩm định khách hàng trước khi cho vay.
Nếu khâu này thực hiện một cách khách quan, chính xác thì việc cho vay của ngân hàng ít gặp rủi ro và ngược lại. SV: Trần Văn Huy 3 Lớp: NHPK15 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Vũ Hải Yến Thứ hai, là sự chuyển nhượng một giá trị có thời hạn. Trong bất kỳ một hợp đồng tín dụng nào cũng đều phải quy định thời hạn cho vay.
Thời hạn cho vay dài hay ngắn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau như chu kỳ sản xuất kinh doanh, chu ký luân chuyển vốn, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn ngân hàng sử dụng để vay. Tức là, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của khách hàng vay thi khi đó người vay mới có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Nếu thời hạn cho vay của ngân hàng ngắn hơn chu kỳ luân chuyển vốn, khi đó, hợp đồng vay vốn đã đến hạn trong khi khách hàng chưa có nguồn thu. Điều này gây khó khăn rất lớn cho khách hàng vay.
Ngược lại, nếu dài hơn sẽ tạo cơ hội cho người vay sử dụng vốn sai mục đích, không có nguồn trả nợ trong tương lai. Tuy nhiên nếu khách hàng có nguồn thu khác để có thể trả nợ thì thời hạn cho vay có thể ngắn hơn chu kỳ luân chuyển vốn. Thứ ba, tín dụng phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi.
Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác, người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc. Vì vốn vay là nguồn vốn ngân hàng huy động từ vốn tạm thời nhàn rỗi của dân cư, sau một thời gian nhất định thì ngân hàng phải trả lại cho họ kèm thêm lãi suất được hưởng theo thỏa thuận. Thêm vào đó, trong quá trình hoat động của mình, ngân hàng cũng phải bỏ ta các chi phí cho khấu hao tài sản cố định, chi phí lương cho cán bộ nhân viên …. Để bù đắp các chi phí này và tạo lợi nhuận cho ngân hàng thì ngân hàng phải thu của khách hàng một khoản tiền lãi.
Thứ tư, tín dụng phải dựa trên cơ sở là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng mà còn phụ thuộc môi trường ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, tăng trưởng kinh tế, thị trường, thiên tai … khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. Thứ năm, tín dụng phải dựa trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quá trình xin cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng SV: Trần Văn Huy 4 Lớp: NHPK15 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.
Vũ Hải Yến tín dụng, khế ước nhận nợ, hợp đồng bảo lãnh … trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn.3 Phân loại Tín dụng.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng. Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng ra làm ba loại: Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dười 1 năm và được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanh nghiệp và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của cá nhân. Với loại tín dụng này, ít có rủi ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có thì ngân hàng có thể dự tính được. Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm và chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Loại tín dụng này có mức độ rủi ro không cao vì ngân hàng có khả năng dự đoán được những biến động có thể xảy ra. Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng, sân bay …), cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn. Loại tín dụng này có mức độ rủi ro rất lớn vì trong thời gian dài, những biến động không lường trước được.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay. Dựa vào tiêu thức này, tín dụng được chia thành: Cho vay bất đổng sản: Là loại vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản như: nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ.
Đây là loại cho vay đòi hỏi lượng đầu tư vốn lớn, thời gian thu hồi dài hạn và chưa đựng nhiều rủi ro, do đó, lãi suất trong lĩnh vực này thường cao, lợi nhuận thu được cũng tương đối lớn. Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Đây là loại phổ biến và chiếm tỷ trọng lớn, thu hút được nhiều đối đượng có nhu cầu về vốn. SV: Trần Văn Huy 5 Lớp: NHPK15 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.
Vũ Hải Yến Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các khoản chi phí như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc… Đối tượng chủ yếu là các hộ nông dân, hợp tác xã… Cho vay nông nghiệp mang tính thời vụ. Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác. Loại cho vay này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách. Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng được chia làm hai loại: Tín dụng có đảm bảo: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở các đảm bảo như thế chấp, cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba.
Ngân hàng nắm giữ tài sản của người vay để xử lý thu hồi nợ khi người vay không thực hiện được các nghĩa vụ đã được cam kết trong hợp đồng tín dụng. Hình thức này được áp dụng đối với những khách hàng không có uy tín cao. Mặc dù là có tài sản đảm bảo nhưng hình thức này vẫn có độ rủi ro cao vì tài sản có thể mất giá hay người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình. Tín dụng không có đảm bảo: Là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc không có sự bảo lãnh của người thứ ba.
Việc cấp tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Muốn vậy, ngân hàng phải đánh giá sự hiệu quả sử dụng tiền vay của người vay, khách hàng không được phép giao tịch với bất kỳ ngân hàng nào khác. Mặc dù không có tài sản đảm bảo nhưng đây là một loại tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì khách hàng có uy tín rất lớn và khả năng trả nợ cao khi mới được cấp tín dụng mà không cần tài sản đảm bảo.4 Căn cứ vào phương pháp hoàn trả. Tín dụng trả góp: Là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận.