phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1:Cơ sở lý luận về chất lƣợng tín dụng bán lẻ của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phẩn Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Hà Thành. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phẩn Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Hà Thành. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG 1. Tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế thị trƣờng các chủ thể của nền kinh tế đều phải sử dụng nguồn tài chính để đáp ứng yêu cầu tái sản xuất các mặt hoạt động của mình, từ đó thƣờng xuyên xuất hiện ba nhóm chủ thể: Nhóm 1 là những chủ thề thu vừa đáp ứng nhu cầu chi; Nhóm hai là những chủ thể thu vƣợt quá nhu cầu chi, các chủ thể trong nhóm này dƣ thừa nguồn tài chính; Nhóm 3 là những chủ thể thu không đủ chi, các chủ thể trong nhóm này thiếu nguồn tài chính để đáp ứng yêu cầu tái sản xuất các mặt hoạt động của mình. Nhƣ vậy, trong nền kinh tế thị trƣờng thƣờng xuyên tồn tại mâu thuẫn giữa thừa nguồn tài chính ở chủ thể này và thiếu nguồn tài chính ở những chủ thể khác. Mâu thuẫn đó chỉ có thể giải quyết thông qua quan hệ cho vay (tín dụng).
Vì vậy tín dụng là một tất yếu trong nền kinh tế thị trƣờng. Nhƣ vậy, "Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng và sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn". Nó thể hiện ở 3 nội dung: sự chuyển giao quyền sử dụng một lƣợng giá trị từ ngƣời này sang ngƣời khác; sự chuyển giao này mang tính tạm thời; khi hoàn lại lƣợng giá trị đã chuyển giao cho ngƣời sở hữu phải kèm theo một lƣợng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức. Trong đó“Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”.
Khác với tín dụng thƣơng mại, tín dụng ngân hàng không cung cấp tín dụng dƣới hình thức hàng hoá. 6 Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định cụ thể về hoạt động cấp tín dụng và cho vay của TCTD nhƣ sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Tín dụng bán lẻ Tín dụng bán lẻ là một hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng là pháp nhân, cá nhân sử dụng trong một thời hạn nhất định, phải hoàn trả lại cả gốc và lãi với mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh. Trƣờng hợp vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác, khách hàng vay là cá nhân có thể vay để đáp ứng nhu cầu vốn của chính cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tƣ nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tƣ nhân.
Đặc điểm của tín dụng bán lẻ Tín dụng bán lẻ là một bộ phận của tín dụng Ngân hàng nên nó cũng mang những đặc điểm cơ bản của tín dụng Ngân hàng nhƣ sau: - Tín dụng là sự cung cấp giá trị dựa trên lòng tin, ngƣời cho vay tin tƣởng ngƣời đi vay có phƣơng án sử dụng vốn hiệu quả và có khả năng trả đƣợc nợ sau thời gian đi vay. - Tín dụng là sử chuyển nhƣợng tạm thời có thời hạn, điều này sẽ thƣờng đƣợc thỏa thuận trƣớc khi xảy ra quạn hệ tín dụng. - Tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời 1 lƣợng giá trị trên nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi. Ngoài những đặc điểm cơ bản của tín dụng Ngân hàng, thì tín dụng cá nhân có những đặc điểm sau: - Đối tƣợng khách hàng vay vốn: là pháp nhân cá nhân.
7 - Mục đích vay: Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh. Trƣờng hợp vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác, khách hàng vay là cá nhân có thể vay để đáp ứng nhu cầu vốn của chính cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tƣ nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tƣ nhân. - Quy mô khoản vay: Hầu hết khoản vay có quy mô nhỏ do nguồn vốn vay đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh với các cá nhân nhỏ lẻ. Tuy nhiên với số lƣợng KHCN rất lớn với nhu cầu phong phú và đa dạng nên quy mô tín dụng bán lẻ là không hề nhỏ.
- Nguồn trả nợ: thƣờng đƣợc lấy từ lƣơng thƣởng, cho thuê tài sản, sản xuất kinh doanh. - Rủi ro tín dụng bán lẻ: Đối với khách hàng cá nhân có các loại rủi ro tín dụng sau: Rủi ro đạo đức: Nguồn trả nợ của các khoản tín dụng bán lẻ đến từ lƣơng thƣởng, cho thuê tài sản hay sản xuất kinh doanh mà hình thành nhƣng vì một lý do khách quan hoặc chủ quan nào đó dẫn đến việc khách hàng không thể thanh toán nợ hoặc trì hoãn trả nợ ảnh hƣởng xấu đến hiệu quả cho vay của Ngân hàng. Các nhân tố khách quan nhƣ lũ lụt, hạn hán, suy thoái kinh tế…. Các nhân tố chủ quan có thể là tình hình tài chính của ngƣời đi vay sụt giảm, công việc có khó khăn mức thu nhập không ổn định, khách hàng câu kết với chuyên viên tín dụng để lừa đảo chiếm dụng vốn của Ngân hàng… Rủi ro lãi suất: xảy ra khi có sự biến động chênh lệch giữa lãi suất vay và lãi suất huy động dẫn đến thu nhập của Ngân hàng giảm đi.
Rủi ro này có thể xảy ra theo sự thay đổi của lãi suất , hoặc do sự mất cân đối về cơ cấu tài sản Có, tài sản Nợ của một ngân hàng điển hình là khi Ngân hàng dùng tài sản Nợ ngắn hạn hoặc lãi suất thay đổi để đầu tƣ vào tài sản Có dài hạn hơn với mức lãi suất cố định. 8 Rủi ro thông tin bất cân xứng: Việc thẩm định KHCN về thân nhân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng thƣờng khó có thể rõ ràng đầy đủ dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng. Rủi ro tác nghiệp: Để phục vụ khách hàng một cách nhanh nhất, trong quá trình thẩm định hồ sơ một vài nhân viên ngân hàng có thể chiếm dụng đƣợc tài sản của KH hoặc câu kết với khách hàng gây tổn thất nặng nề cho Ngân hàng. - Chi phí quản lý khoản tín dụng: Mặc dù giá trị khoản vay nhỏ nhƣng số lƣợng khách hàng cá nhân rất đông nên chi phí thu thập thông tin khách hàng trƣớc khi quyết định cho vay, chi phí hành chính, quản lý, theo dõi tín dụng thƣờng xuyên sau cho vay là rất lớn.
- Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay với khách hàng cá nhân thƣờng cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp. Đối với các khoản vay ngắn hạn, mức lãi suất cho vay thƣờng đƣợc cố định trong suốt thời gian vay, bên cạnh đó với những khoản vay trung và dài hạn lãi suất cho vay thƣờng đƣợc cố định thấp trong khoảng 6 tháng, 1 năm hoặc 2 năm tùy theo các gói sản phẩm cụ thể ngoài khoảng thời gian đó lãi suất cho vay sẽ đƣợc điều chỉnh 3 tháng 1 lần vào ngày làm việc đầu tiên của quý đƣợc xác định bằng lãi suất huy động cộng biên độ cố định. Vai trò của tín dụng bán lẻ Với chức năng là một trung gian tài chính, Ngân hàng đã biến tiết kiệm thành đầu tƣ, tức là huy động vốn từ các nguồn vốn tạm thời dƣ thừa trong sản xuất kinh doanh cũng nhƣ nguồn vốn nhàn rỗi nằm rải rác trong dân cƣ để cho vay. Hoạt động này tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập và đời sống ngƣời dân, giúp cho quá trình sản xuất đƣợc diễn ra liên tục, góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nƣớc.
Vai trò đối với ngân hàng Hoạt động chủ yếu của NHTM là việc thu hút vốn để mở rộng cho vay và đầu tƣ nhằm thu lợi nhuận. Việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Chiến lƣợc kinh doanh quan trọng nhất của ngân hàng là chiến lƣợc tín dụng. Trong đó hoạt động tín dụng bán lẻ là hoạt động hứa hẹn đem lại lợi nhuận cao nên các ngân hàng luôn quan tâm đến việc mở rộng và nâng cao chất lƣợng cho vay.
Hoạt động tín dụng bán lẻ giúp ngân hàng mở rộng mối quan hệ với khách hàng, thuận tiện trong việc bán chéo sản phẩm dịch vụ nhƣ gửi tiết kiệm, thanh toán lƣơng qua tài khoản, các dịch vụ tín dụng bán lẻ…từ đó gia tăng sức cạnh tranh tạo uy tín và những nét đặc trƣng riêng cho ngân hàng. Bên cạnh đó hoạt động tín dụng bán lẻ nhƣ một biện pháp để phân tán rủi ro vì số lƣợng KHCN rất đông, nếu một vài khách không thể hoàn trả đƣợc nợ không ảnh hƣởng to lớn đến hệ thống ngân hàng nhƣ các khách hàng doanh nghiệp lớn. Vai trò đối với khách hàng Thứ nhất: Tín dụng bán lẻ góp phần nâng cao mức sống của ngƣời dân vì nhờ vào mức vốn mà Ngân hàng tài trợ họ đƣợc giải quyết các nhu cầu tài chính cấp bách của cá nhân và gia đình nhƣ mua nhà, mua xe, sản xuất kinh doanh, xây sửa chữa nhà….mà không cần phải mất nhiều thời gian sức lực, chi phí tìm kiếm. Khi đi vay ngƣời đi vay sẽ chịu áp lực trả nợ do đó buộc phải sử dụng vốn có hiệu quả, tăng vòng quay vốn nhằm đảm bảo khả năng trả nợ.