Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Cơ sở lý luận về chất lượng nguồn nhân lực tại bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực tại bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm chất lượng Khái niệm chất lượng đã xuất hiện từ rất lâu, ngày nay được sử dụng phổ biến và rất thông dụng trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong các tài liệu, công trình nghiên cứu.
Tại bất cứ nơi đâu hay trong lĩnh vực nghiên cứu nào, chúng ta đều thấy xuất hiện thuật ngữ chất lượng. Tuy nhiên, để hiểu chính xác thế nào là chất lượng lại là vấn đề không đơn giản. Chất lượng là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kinh tế, kĩ thuật và xã hội. Do tính phức tạp đó nên hiện nay có rất nhiều các khái niệm khác nhau về chất lượng.
Mỗi khái niệm đều có có sở khoa học nhằm giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế. Dưới đây là một số các quan điểm khác nhau về khái niệm "chất lượng". Theo giáo sư người Mỹ Joseph Juran "Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu", từ đó ông đã đưa ra bộ ba quản lý chất lượng bao gồm: Hoạch định chất lượng , kiểm soát chất lượng và cải tiến chất lượng. Quan điểm của ông được đánh giá rất cao và được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực quản trị chất lượng của các doanh nghiệp hiện nay.
Feigenbaum - Người sáng tạo ra thuật ngữ “Kiểm soát chất lượng toàn diện TQC” thì "Chất lượng là tập hợp tất cả các đặc tính của sản phẩm và dịch vụ từ tiếp cận thị trường, kỹ thuật, sản xuất và bảo hành mà thông qua đó sản phẩm và dịch vụ được sử dụng sẽ đáp ứng được mong đợi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 của khách hàng." (Giáo trình Quản Trị Chất Lượng Toàn Diện TQM Và Nhóm Chất Lượng, NXB Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh) Theo trường phái quản trị chất lượng Nhật Bản, đại diện là Kaoru Ishikawa - Người phát minh ra kỹ thuật biểu đồ nhân quả quan điểm “Chất lượng là thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất”. (Giáo trình quản trị chất lượng, NXB Hồng Đức.) Tóm lại, có nhiều các quan điểm khác nhau về chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, có một định nghĩa về chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa: “Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có".
Chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Vì vậy, sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi nữa. Đánh giá chất lượng cao hay thấp phải đứng trên quan điểm người tiêu dùng. Cùng một mục đích sử dụng như nhau, sản phẩm nào thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lượng cao hơn.
Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là một trong bốn nguồn lực cơ bản của tổ chức và là nhân tố chủ chốt quyết định đến sự thành bại của một tổ chức. Do đó, việc nghiên cứu về nguồn nhân lực luôn được các chuyên gia, các tổ chức quan tâm chú trọng. Tuy nhiên, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
(Giáo trình Kinh tế quản lý nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội) Ngân hàng thế giới cho rằng “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”. Như vậy, ở Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: Vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO “nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động” (Báo cáo của Liên hợp quốc về tác động toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực). Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển, bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường; Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội.
Dưới góc độ kinh tế phát triển “Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động” (Giáo trình Kinh tế lao động, NXB Lao động xã hội, Hà Nội). Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: Về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó” (Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa - 2001). Các quan điểm trên tuy xem xét nguồn nhân lực dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất nội dung cơ bản: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò trung tâm và quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, đồng thời là chỉ tiêu đánh giá sự phát triển, tiến bộ xã hội của quốc gia.
Trên cơ sở những quan niệm về nguồn nhân lực ở trên, luận văn này Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 9 tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực như sau: “Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người (bao gồm cả thể lực, trí lực và tâm lực) là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, NNL là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trình độ sự phát triển và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia”. Khi xem xét nguồn nhân lực ta có thể xem xét trên hai góc độ: Số lượng và chất lượng. Về số lượng: Số lượng nguồn nhân lực được tính bằng tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số người lao động dự phòng. Nhưng đối với doanh nghiệp thì nguồn nhân lực không bao gồm những người trong độ tuổi lao động của toàn xã hội mà chỉ tính những người trong độ tuổi lao động của toàn doanh nghiệp.
Về chất lượng: Chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc. Trong tổ chức, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các nguồn lực của tổ chức. Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những người làm việc trong tổ chức.
Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành và quyết định sự thành bại của tổ chức. Khái niệm về chất lượng nguồn nhân lực tại bảo hiểm xã hội Do có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực nên có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực.TS Mai Quốc Chánh “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực”. Vũ Thị Mai thì “chất lượng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 10 đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của ngươi lao động”. (Giáo trình Kinh tế quản lý nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội) Cũng có ý kiến cho rằng chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức là tập hợp các yếu tố về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm trong công việc, trình độ chính trị, giá trị đạo đức và lối sống của người lao động trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả xin được sử dụng khái niệm về chất lượng nguồn nhân lực như sau: Chất lượng nguồn nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động được biểu hiện thông qua ba mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực (Giáo trình Quản trị nhân sự, NXB Thống kê). Trong đó: Thể lực là tình trạng sức khỏe của nguồn nhân lực, bao gồm nhiều yếu tố cả về thể chất lẫn tinh thần và phải đảm bảo được sự hài hòa giữa bên trong và bên ngoài. Thể lực được phản ánh bằng một hệ thống các chỉ tiêu cơ bản như: Chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Trí lực là năng lực nhận thức và cải tạo thế giới của nguồn nhân lực, là sự kết tinh của tri thức và vận dụng tri thức vào quá trình lao động.
Trí lực được thể hiện thông qua trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng mềm của nguồn nhân lực.