phần mở đầu, kết luận, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ và danh mục chữ viết tắt, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn đƣợc cấu trúc gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhân viên kỹ thuật tại Công ty Cổ phần Tƣ vấn Trƣờng Sơn. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhân viên kỹ thuật tại Công ty Cổ phần Tƣ vấn Trƣờng Sơn. 10 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ NHÂN VIÊN KỸ THUẬT TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm đội ngũ nhân viên kỹ thuật trong doanh nghiệp 1. Khái niệm nguồn nhân lực Khi nói đến đội ngũ lao động tại một tổ chức, ngƣời ta đều hiểu đó là “nguồn nhân lực”. Vì vậy, mọi lý thuyết liên quan đến đội ngũ lao động đều xuất phát từ lý thuyết về “nguồn nhân lực”.
Trƣớc khi tìm hiểu khái niệm “đội ngũ nhân viên kỹ thuật” thì cần phải hiểu về “nguồn nhân lực”. Nguồn nhân lực đƣợc xuất phát từ nhân lực. Nhân lực là tổng thể các nguồn lực trong mỗi con ngƣời cấu thành năng lực làm việc của họ, đƣợc sử dụng trong quá trình lao động. Nhân lực chỉ một cá nhân ngƣời lao động cụ thể còn nguồn nhân lực lại chỉ một tập hợp ngƣời có vai trò khác nhau, đƣợc liên kết với nhau theo các mục tiêu đã xác định.
Khái niệm nguồn nhân lực thƣờng gắn với một phạm vi nhất định: quốc gia, vùng, ngành (gọi chung là phạm vi xã hội) hay tổ chức. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc:" Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng" [24, tr.3] Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “NNL của quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. NNL đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cƣ có thể phát triển bình thƣờng.
Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, 11 bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ đƣợc huy động vào quá trình lao động” [8, tr. Theo quy định của Tổng cục thống kê: nguồn nhân lực bao gồm những ngƣời đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (lao động đang làm việc) và những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhƣng đang ở trong các tình trạng sau đây: đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình, không có nhu cầu làm việc, những ngƣời thuộc tình trạng khác chƣa tham gia lao động. Theo Nicholas Henry (2001): “Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời của những tổ chức (với quy mô, loại hình và chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực và thế giới”.Milkovich và Jonh W.Boudreau (1997): “Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân đảm bảo nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức”.9] Theo Phạm Minh Hạc: “NNL là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời, trƣớc hết là tiềm năng lao động, bao gồm: thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách của con ngƣời nhằm đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu kinh tế xã hội nhất định, có thể là một quốc gia, một vùng, một ngành hoặc một tổ chức nhất định trong hiện tại và tƣơng lai” [5, tr. Kế thừa các quan điểm nghiên cứu về nguồn nhân lực, tác giả cho rằng: nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời, là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực, tâm lực của con ngƣời đƣợc vận dụng trong quá trình lao động sản xuất, đang và sẽ tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội.
Khái niệm đội ngũ nhân viên kỹ thuật Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau để định nghĩa nhân viên kỹ thuật: Có quan điểm cho rằng, nhân viên kỹ thuật là những đối tƣợng có kiến thức chuyên ngành về khoa học, kỹ thuật nhằm áp dụng kiến thức này vào thực tiễn quy trình thiết kế, xây dựng, duy trì các cấu trúc máy móc, thiết bị, hệ thống và vật liệu. Nhân viên kỹ thuật phải sử dụng kiến thức chuyên môn của mình giúp tìm và tạo ra mô hình, đƣa ra những giải pháp thay đổi quy mô một cách hợp lý hay hoàn thành một mục tiêu nhất định. Lĩnh vực hoạt động của nhân viên kỹ thuật bao gồm một loạt các lĩnh vực đặc thù, trong đó mỗi một lĩnh vực lại nhấn mạnh đến một khía cạnh công nghệ khác nhau cùng những ứng dụng riêng. Lại có ý kiến cho rằng nhân viên kỹ thuật là thuật ngữ dùng để chỉ những ngƣời có trình độ tay nghề về kỹ thuật và làm trong môi trƣờng liên quan đến kỹ thuật không quy định bằng cấp.
Theo quan điểm của tác giả, trong phạm vi luận văn này có thể hiểu đội ngũ nhân viên kỹ thuật nhƣ sau: Đội ngũ nhân viên kỹ thuật là tập hợp những người lao động đã trải qua quá trình đào tạo ở các cấp độ khác nhau về các chuyên ngành kỹ thuật; họ vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của mình để giải quyết những công việc trong môi trường liên quan đến kỹ thuật nhằm phục vụ cho mục đích chung của tổ chức. Chất lượng đội ngũ nhân viên kỹ thuật trong doanh nghiệp Theo từ điển tiếng Việt thì “chất lƣợng” hiểu ở nghĩa chung nhất là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con ngƣời, sự vật, sự việc” [11, tr. Theo Tạ Ngọc Hải, Viện Khoa học Tổ chức Nhà nƣớc thì: "Chất lƣợng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận nhƣ: trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ…của ngƣời lao động. Trong 13 các yếu tố trên thì yếu tố trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng nhất để xem xét và đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực" [6, tr.
Theo Phùng Rân thì chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc đo bằng hai tiêu chí: “Là năng lực hoạt động của nguồn nhân lực và phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực đó” [12, tr. Theo giáo trình Nguồn nhân lực của trƣờng Đại học Lao động - Xã hội do Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2011: “Chất lƣợng NNL là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ mức sống, dân trí của dân cƣ”. Theo tác giả Mai Quốc Chánh và tác giả Trần Xuân Cầu: “Chất lƣợng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của Nguồn nhân lực” [2, tr. Theo quan điểm của Phan Thanh Tâm thì chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc định nghĩa: “Chất lƣợng nguồn nhân lực là tổng hòa của cả 3 yếu tố: Trí lực, thể lực và phẩm chất của ngƣời lao động” [13, tr.
Từ những quan điểm về CLNNL trên, tác giả đƣa ra khái niệm đƣợc sử dụng trong luận văn nhƣ sau: “Chất lƣợng nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố cấu thành năng lực bao gồm: thể lực, trí lực và tâm lực của lực lƣợng lao động”, CLNNL đƣợc thể hiện ở các mặt sau đây: Thể lực: Là trạng thái sức khỏe của ngƣời lao động, thể hiện ở sự phát triển sinh học, đủ sức khỏe để tham gia lao động, học tập và làm việc lâu dài. Trí lực: Là năng lực trí tuệ, là học vấn chuyên môn kỹ thuật, là kỹ năng nghiệp vụ tay nghề, tính năng động xã hội của ngƣời lao động. 14 Tâm lực: Là sự phản ánh thể hiện tính cách, tâm lý, ý thức, đạo đức, mức độ trung thành, tác phong, thái độ đối với công việc và các giá trị văn hóa của ngƣời lao động. Trong phạm vi đề tài, việc "nghiên cứu chất lượng đội ngũ nhân viên kỹ thuật cũng phải dựa trên nền tảng chung là chất lượng nguồn nhân lực, nghĩa là chất lượng đội ngũ nhân viên kỹ thuật cũng được đánh giá trên ba mặt: thể lực, trí lực và tâm lực của họ".
Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên kỹ thuật trong doanh nghiệp Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực chính là tăng cƣờng sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lƣợng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lƣợng này có thể hoàn thành đƣợc nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của một quốc gia, một doanh nghiệp. Theo Vũ Bá Thể (2005): "Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức phƣơng pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng từng con ngƣời lao động đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển". Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con ngƣời thông qua đào tạo, bồi dƣỡng, tự bồi dƣỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trƣờng làm việc (phƣơng tiện lao động có hiệu quả và các chế độ chính sách hợp lý.) môi trƣờng văn hóa - xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của ngƣời lao động, để họ mang hết sức mình hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ đƣợc giao. Từ những luận điểm trên có thể thấy rằng: Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là quá trình làm thay đổi nhân lực theo chiều hƣớng đi lên về mặt 15 chất lƣợng (thể lực, trí lực, tâm lực) để đạt đƣợc mục tiêu nhất định của mỗi cá nhân và mục tiêu chung của tổ chức.