mở đầu trong việc thanh toán không dùng tới tiền mặt, tức là khi chủ thể tiến hành việc mua bán họ sẽ không cần cầm theo tiền mặt hay gặp mặt để chi trả trực tiếp như trước đây mà lúc này thông qua lệnh gửi tiền khách hàng đã lập ngân hàng sẽ thực hiện việc chuyển tiền cho người thụ hưởng. Việc thanh toán bằng tiền mặt gặp nhiêu hạn chế về không gian và thời gian cũng như mang tính rủi ro cao. Khi đó, dịch vụ thanh toán thông qua ngân hàng ra đời giúp khắc phục những hạn chế còn gặp phải và tăng tính an toàn, tiện lợi.doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian cũng như tăng thêm lợi nhuận. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia khi sử dụng dịch vụ này đã hoàn chỉnh hon chính sách tiền tệ của họ, mặt khác nó còn kéo theo dịch vụ mở tài khoản thanh toán phát triển.
Hoạt động công nghệ thông tin (CNTT) không ngừng nâng cao sẽ có thêm nhiều hình thức thanh toán mới ra đời như: Ưỷ nhiệm chi, L/C, sử dụng thẻ.Các dịch vụ trên đã giúp cho 10 mọi hoạt động kinh tế diễn ra nhanh chóng và sôi động hơn (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Nhiệm vụ giúp khách hàng thanh toán dễ dàng hơn khi tham gia một số giao dịch kinh tế dân sự, phụ thuộc nhiều vào phạm vi giao dịch, dịch vụ thanh toán sẽ có chuyển tiền trong nước và quốc tế. a) Chuyển tiền trong nước: Với khách hàng: Những hình thức thanh toán thông qua ngân hàng sẽ bao gồm: Thanh toán bằng séc: Hoạt động này là một lệnh viết vô điều kiện, được chủ tài khoản thực hiện để ngân hàng tiến hành thanh toán cho người thụ hưởng. Séc được biết tới như phương tiện thanh toán được hình thành từ khá sớm, ngày nay đã có nhiều phương tiện thanh toán mới ra đời nhưng séc vẫn được sử dụng nhiều nhất.
Séc sẽ được chia làm 6 loại đó là: Séc chuyển tiền cầm tay; Séc chuyển khoản; Séc bảo chi; Séc cá nhân; Séc tiền mặt; sổ séc định mức (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Thanh toán bằng hình thức uỷ nhiệm chi: Tức là lệnh chuyển tiền của khách hàng hay lệnh chi tiền của chủ tài khoản được gửi tới ngân hàng với mục đích trích tiền từ tài khoản của khách hàng gửi cho người thụ hưởng. Thường khách hàng sẽ dùng tới dịch vụ này trong quá trình mua hàng hoá và dùng dịch vụ, nó có thể diễn ra trong hoặc ngoài hệ thống (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu: Đây là hoạt động được ngân hàng thực hiện theo yêu cầu của bên cung ứng dịch vụ về việc thu hộ một khoản tiền nhất định từ người dùng dịch vụ, để chuyển vào tài khoản của bên cung ứng thông qua việc hàng hoá dịch vụ đã đáp ứng theo yêu cầu.
Trên thực tế uỷ nhiệm thu thường dùng cho những khách hàng có cùng tài khoản thanh toán tại một hệ thống ngân hàng hoặc khác ngân hàng. Muốn tiến hành thanh toán thông qua uỷ nhiệm thu thì các bên trước khi giao dịch cần thông qua mọi điều khoản và ghi rõ vào hợp đồng kinh tế. Bên cạnh đó 11 cũng phải gửi văn bản cho ngân hàng phục vụ người thụ hưởng nhằm tạo co sở tiến hành mọi uỷ nhiệm thu (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Thanh toán bằng thẻ: Việc thanh toán này khá phổ biến và hiện đại, chủ thẻ sẽ dùng thẻ vào mục đích chuyển tiền, rút tiền, tiến hành một số giao dịch ở máy ATM hay chi trả tiền hàng hoá, dịch vụ tại các đon vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT).
Thời điểm đầu thế kỷ 20 thì thẻ thanh toán đã được ra đời, khi thanh toán bằng thẻ sẽ có nhiều tiện ích về công nghệ thông tin (CNTT) khá hiện đại, điều này giúp thay thế phần nào việc thanh toán bằng séc nhằm tiến hành thanh toán những món nhỏ (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Những hình thức thanh toán giữa các ngân hàng thường dùng: Chuyển tiền liên chi nhánh (CN): Thực hiện giữa những khách hàng trong cùng hệ thống ngân hàng với nhau. Trong các chi nhánh thường có một tài khoản dùng vào việc điều chuyển vốn nội bộ, khi có lệnh chuyển tiền đến và đi sẽ được hạch toán chi tiết trên tài khoản. Chuyển tiền bù trừ: Hoạt động này diễn ra giữa các ngân hàng khác hệ thống nhưng nằm trên một địa bàn.
Muốn thực hiện phải có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước (NHNN) trên địa bàn. Khi xuất hiện bất kỳ giao dịch chuyển tiền đến và đi thì Ngân hàng nhà nước sẽ bù trừ trên tài khoản tiền gửi đó một cách luân phiên (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Chuyển tiền điện tử liên ngân hàng: Được tiến hành giữa các ngân hàng không cùng hệ thống nhưng đôi khi lại cùng địa bàn hoặc không. Khi đó, Ngân hàng nhà nước (NHNN) sẽ lập trung tâm thanh toán quốc gia, lúc này nếu hội sở chính của ngân hàng muốn thực hiện thanh toán liên ngân hàng thì phải có tài khoản tiền gửi ở ngân hàng nhà nước.
Giữa các ngân hàng diễn ra thanh toán đều được bù trừ dựa vào tài khoản tiền gửi này (Nguyễn Minh Kiều, 2009). 12 9 X ỉ ỉ b) Chuyên tiên quồc tê'. Hoạt động này của ngân hàng phụ thuộc vào lệnh chuyển tiền của khách hàng tới người thụ hưởng dựa theo mẫu lệnh chuyển tiền khách hàng lập. Mặt khác nó còn được thực hiện dựa vào một số ngân hàng đại lý dùng mạng Swift thanh toán toàn cầu và chuyển tiền bằng Internet.
Swift là quá trình chuyển tiền dựa vào hệ thống mạng Swift, hoạt động này sẽ thông qua tổ chức tài chính quốc té. Trên thế giới hiện có hon 202 quốc gia đã tham gia vào tổ chức này, mỗi khách hàng đều được cấp mã riêng gọi là Swiftcode (Nguyễn Minh Kiều, 2009).2 Tài trợ thương mại Hoạt động này gọi tắt là dịch vụ thanh toán quốc tế (TTQT). Trên thực tế các ngân hàng sẽ chia thành hai dịch vụ là chuyển tiền quốc tế và tài trợ thương mại (Phan Thị Cúc, 2011). Đối với những dịch vụ thanh toán có yếu tố nước ngoài sẽ được xem là hoạt động đưa tới những dịch vụ thanh toán quốc tế (TTQT) như: Các giao dịch thanh toán hình thành hay kết thúc tại nước ngoài, hoặc có tài khoản mở ở nước ngoài.
Giao dịch thanh toán của doanh nghiệp thuộc khu chế xuất có tài trợ thương mại dưới những hình thức như: L/C- Letter of credit - Thư tín dụng: Dù có tên gọi hay được thỏa thuận thế nào thì ngân hàng (nơi phát hành) phải làm đúng với mong muốn và hướng dẫn của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) hay đến từ chính bản thân họ: Thanh toán phụ thuộc vào lệnh của bên thứ ba hoặc sử dụng thanh toán bằng hối phiếu đòi tiền được ký bởi người thụ hưởng hoặc Trao quyền cho ngân hàng khác thực hiện thanh toán hay sử dụng hình thức hối phiếu như trên hoặc 13 Giao quyền cho ngân hàng khác thực hiện chiết khấu dựa vào bộ chứng từ được xuất trình (Phan Thị Cúc, 2011). Với hình thức thanh toán quốc tế thì việc sử dụng thanh toán L/C được xem là nhiều nhất, nó là sự thỏa thuận của ngân hàng, với gân hàng phục vụ người mua hoặc người bán và cam kết người xuất sẽ được thanh toán tiền hàng khi mà người hưởng lợi L/C thực hiện xong việc giao hàng cũng như ngân hàng nhận được bộ chứng từ hạch toán tưong ứng theo quy định. Hoạt động này chỉ thực hiện khi hai bên chưa tin tưởng lẫn nhau, nội dung của thư sẽ có: Thư tín dụng xuất khẩu: Thanh toán L/C, gửi thông báo về việc kiểm tra chứng từ, mở L/C. Thư tín dụng nhập khẩu: Thanh toán L/C, gửi thông báo về việc kiểm tra chứng từ, mở L/C.
Dựa vào việc thu ngân hàng đã giải quyết được bộ chứng từ thông qua thu nhận từ hướng dẫn của người gửi chứng từ để: Tiếp nhận thanh toán hay công nhận, hoặc (Nhờ thu D/A) Giao chứng từ khi được thanh toán và/hoặc chấp nhận hoặc (Nhò thu D/P) Giao chứng từ dựa trên những điều kiện khác nhau (Nhờ thu D/OT) Mặt khác dịch vụ xuất nhập khẩu (XNK) sẽ có nhiều loại hình khác nhau như: Bảo lãnh nhận hàng: Lúc này ngân hàng sẽ thực hiện việc bảo lãnh để bên được bảo lãnh có thể nhận được lô hàng theo đúng quy định. Khi xuất hiện tranh chấp thì phía ngân hàng cần tiến hành công tác cam kết đã nếu trong bảo lãnh (Phan Thị Cúc, 2011). Ký hậu vận đon: Khi đó ngân hàng xác nhận ở mặt sau của vận đon đường biển để bên khác có thể được đứng ra nhận đon hàng đúng theo quy định. Thông báo thư tín dụng: là nghiệp vụ khi đó ngân hàng xác định sự chính xác sau đó gửi thông báo trực tiếp hoặc gián tiếp, ngân hàng có nhiệm vụ thông báo đến 14 người nhận được thư tín dụng do một ngân hàng phát hành theo nhu cầu hay thông qua kiến nghị của một ngân hàng thông báo khác.
Nhờ thu hàng nhập: Nhiệm vụ của ngân hàng sẽ là gửi đi thông báo và xử lý những vấn đề có liên quan tới bộ chứng từ đòi tiền hàng nhập dưới dạng thu dựa vào chỉ dẫn từ phía ngân hàng/khách hàng nhờ thu. Nhờ thu hàng xuất: Ngân hàng sẽ tiến hành gửi và xử lý vấn đề của bộ chứng từ đòi tiền hàng xuất thông qua việc nhờ thu hộ hay thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng hoặc ngân hàng phát hành. Mua chiết khấu bộ chứng từ: Lúc này ngân hàng cầm giám sát hết toàn bộ chứng từ đòi tiền hàng xuất theo thư tín dụng mà khách hàng đưa ra và khách hàng sẽ được ứng trước một khoản tiền đúng với thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng theo tiêu chuẩn về hạn mức chiết khấu của khách hàng được ngân hàng thông qua, thực tế hiện nay của bộ chứng từ và năng lực hoàn trả của ngân hàng phát hành. Phía khách hàng cần chi trả lại khoản tiền gốc và lãi cho ngân hàng ngay sau khi nhận được tiền từ bộ chứng từ hay sau một thời gian cụ thể được ngân hàng quy định rõ, trong trường hợp đòi tiền không diễn ra theo kế hoạch.
Thông báo bảo lãnh: Ngân hàng cần biết được độ chính xác và phát đi thông báo theo hướng trực tiếp hoặc gián tiếp dựa vào một ngân hàng thông báo tới người thụ hưởng bảo lãnh hay thông qua kiến nghị của một ngân hàng thông báo khác (Phan Thị Cúc, 2011).