CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng thương mại Về mặt lịch sử, Ngân hàng thương mại thuộc loại Ngân hàng ra đời sớm nhất. Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, từ đầu thế kỷ thứ XVI, ở Châu Âu đã ra đời một số ngân hàng, lúc đó theo hình thức còn khá sơ khai, hoạt động chỉ gói gọn trong việc giữ hộ tiền và cho vay.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, hoạt động Ngân hàng thương mại ngày càng đa dạng và hoàn thiện. Mặc dù vậy, đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào về định nghĩa của Ngân hàng thương mại. Theo Giáo sư Peter S.Rose: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, đồng thời thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Theo luật Ngân hàng của Pháp (1941): Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở kinh doanh nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác có số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, cho vay hay tài chính.
Ở Việt Nam, theo luật các tổ chức cho vay 2010, Ngân hàng thương mại là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức cho vay (2010) nhằm mục tiêu lợi nhuận. Có thể hiểu rằng NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh 5 doanh tiền tệ với nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp cho vay và cung ứng các dịch vụ liên quan đến lĩnh vực tài chính Ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Để hiểu rõ hơn về khái niệm NHTM, cần tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm của Ngân hàng thương mại. NHTM thực hiện theo hai hình thức hoạt động kinh doanh chính: Kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng.
Trong đó hình thức kinh doanh tiền tệ được hiểu là NHTM huy động vốn dưới các hình thức khác nhau để cấp cho vay cho các đối tượng khác nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Các dịch vụ Ngân hàng được thể hiện thông qua các nghiệp vụ có sẵn về tiền tệ, thanh toán, bảo lãnh, ngoại hối… để hỗ trợ khách hàng thực hiện một công việc nhất định và thu phí hoặc hoa hồng. Hoạt động NHTM phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, NHTM muốn hoạt động trên thị trường thì phải tuân thủ đủ và đúng các điều kiện theo quy định. Hoạt động kinh doanh NHTM có độ rủi ro cao hơn các hình thức kinh doanh khác và ảnh hưởng sâu sắc đến cả nền kinh tế.
Bởi lẽ do hoạt động Ngân hàng là kinh doanh tiền tệ, tiến hành huy động vốn rồi đem vốn đó cấp cho vay cho những đối tượng khác theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi trong một thời gian nhất định. Rủi ro đến từ phía ngân hàng, khách hàng vay tiền, khách hàng gửi tiền và những yếu tô khách quan khác. Để giảm thiểu rủi ro, chính phủ của các quốc gia đã đặt ra những bộ luật, quy định… nhằm đảm bảo ngân hàng- “xương sống của nền kinh tế” được vận hành an toàn, và hiệu quả. Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại Cùng với sự phát triển và nhu cầu của nền kinh tế, các hoạt động của NHTM ngày càng được mở rộng, nhưng có thể tổng hợp bằng 03 nghiệp vụ chính: nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn và nghiệp vụ trung gian.
6 - Nghiệp vụ huy động vộn: Là cầu nối cho các hoạt động khác của NHTM. Bên cạnh nguồn vốn của chủ sở hữu, NHTM còn đảm nhận trọng trách là trung gian tài chính, huy động những nguồn vốn nhàn rỗi trong thị trường thông qua các hoạt động : tiền gửi, trái phiếu hoặc có thể vay các TCTD khác hoặc Ngân hàng nhà nước. - Nghiệp vụ sử dụng vốn: Sau khi huy động được nguồn vốn trong thị trường, để tạo ra lợi nhuận, Ngân hàng sẽ xây dựng các cách hiệu quả để tạo ra lợi nhuận từ nguồn vốn đó. Cũng chính là các cách để đem lại lợi nhuận và duy trì hoạt động của NHTM.
Hoạt động chủ yếu và truyền thống đồng thời mang lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng phải kể đến hoạt động cho vay. Một số các hoạt động khác như: chứng khoán, đầu tư tài sản cố định… - Nghiệp vụ trung gian: các nghiệp vụ trung gian ra đời để đáp ứng những thay đổi của nền kinh tế. Các sản phẩm chính như: bảo lãnh, ngoại hối, giữ hộ tài sản, mua bán và bảo quản chứng khoán, tư vấn quản trị…Các hoạt động trung gian không phải là kênh mang lại lợi nhuận chính cho ngân hàng, nhưng ngày nay khi mà các Ngân hàng thương mại càng ngày càng cạnh tranh khốc liệt, thì những sản phẩm trung gian lại mang tới nguồn lợi nhuận ổn định cho ngân hàng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng hoạt động của nghiệp vụ huy động vốn và sử dụng vốn. Đảm bảo đa dạng hóa và giảm thiểu rủi ro, gia tăng thu nhập cho ngân hàng.
Đây là 3 nhóm nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại, chúng có những đặc điểm khác nhau nhưng lại có mối liên quan chặt chẽ, mật thiết. Ngày nay, các nhà quản trị học, những nhà lãnh đạo Ngân hàng luôn phải đề ra những chiến lược để liên kết 03 nghiệp vụ trên, chú trọng phát triển đồng thời để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của các NHTM. DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NỀN KINH TẾ 7 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Việc xác định các tiêu chí và định mức để đánh giá quy mô của một DNNVV có sự khác biệt ở các quốc gia trên thế giới.
Ngay cả trong một quốc gia, những tiêu chí này cũng có thể được thay đổi theo thời gian vì sự phát triển của doanh nghiệp, đặc điểm nền kinh tế hay tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Tuy nhiên, các tiêu chí phổ biến nhất được nhiều quốc gia sử dụng là: số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong năm, tổng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp, tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp Từ năm 1998 trở về trước, nước ta chưa có văn bản nào quy định phân loại doanh nghiệp theo quy mô, mà chủ yếu phân loại doanh nghiệp theo 2 nhóm: doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Sự ra đời của công văn số 681/1998/CP-KTN, ngày 20/06/1998 của Chính phủ về việc định hướng chiến lược và chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV đã đánh dấu bước khởi đầu trong quá trình thống nhất quan niệm và đẩy mạnh hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam. Cũng theo quá trình phát triển cùng nền kinh tế, những văn bản quy định cũng dần hoàn thiện và xây dựng chi tiết và cụ thể hơn.
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009, “doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, cụ thể như sau: 8 Bảng 1.1: Các điều kiện phân loại doanh nghiệp Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao động Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn Số lao Khu vực vốn vốn động I. Nông, 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 lâm xuống trở xuống người đến đồng đến người đến nghiệp 200 người 100 tỷ đồng 300 người và thủy sản II. Công 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp xuống trở xuống người đến đồng đến người đến và xây 200 người 100 tỷ đồng 300 người dựng III. 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 Thương xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến mại và 50 người tỷ đồng 100 người dịch vụ Nguồn: khoản 1 điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 Theo Nghị định trên, DNNVV phải đáp ứng các tiêu chí: - Về mặt pháp lý: Phải là cơ sở kinh doanh, kinh doanh theo đúng quy định của Pháp luật.
- Về quy mô: Được chia làm 03 nhóm: Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. - Về số vốn đăng ký: Tùy thuộc vào từng loại hình và quy mô doanh nghiệp. - Về số lượng lao động bình quân: Tùy thuộc vào từng loại hình và quy mô doanh nghiệp. 9 Hiện nay, khi mà nền kinh tế hội nhập với nền kinh tế thế giới, nhà nước cũng đang đẩy mạnh những chính sách hỗ trợ phát triển dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tính đến tháng 4/2017, Chính phủ đang xây dựng dự thảo Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong đó sẽ quy định rõ về định nghĩa DNNVV và các nội dung hỗ trợ DNNVV kèm theo. Đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp nhỏ và vừa Tuy mỗi quốc gia có một khái niệm riêng về DNNVV nhưng hầu hết các DNNVV đều mang những đặc điểm chung. Do vậy việc hiểu rõ những đặc điểm cơ bản của DNNVV là bước đầu để xây dựng những chính sách phù hợp và hiệu quả dành cho loại hình doanh nghiệp trên của các NHTM. Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực và các thành phần kinh tế.
DNNVV hoạt động trong lĩnh vực xây dưng, thương mại, dịch vụ, nông nghiệp, công nghiệp…và dưới nhiều loại hình khác nhau: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, liên doanh, nhà nước…Nhờ có quy mô nhỏ, khả năng tận dụng được nguồn nhân lực và nguyên vật liệu địa phương, dễ dàng đáp ứng và thích nghi với nhu cầu của thị trường nên DNNVV phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng, góp phần phát triển nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và ổn định đời sống xã hội. Chính về mức độ phủ sóng rộng và đa dạng của các DNNVV, nên khi mà phân khúc khách hàng doanh nghiệp lớn đang dần thu hẹp, các NHTM cần phải thay đổi để chuyển hướng sang phân khúc khách hàng mới dồi dào và tiềm năng này.