CHƯƠNG I .NHUNG VAN DE VE AN TOAN CUA HỆ THONG MAY TINH I. KHAINIEM AN TOAN HE THONG 1. Khái niệm an toàn hệ thống Van dé an toàn - bảo mật thông tin nói chung và trên mạng, máy tính nói riêng đã và đang trở thành một vấn đề bức xúc đối với các tô chức xã hội, các cơ quan của Chính phủ, thách thức sự tồn tại và phát triển của các hệ thống thông tin. Chính vì vậy vấn đề an toàn hệ thống đã được các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực quan tâm và tìm biện pháp giải quyết.
Một hệ thống được coi là an toàn khi hệ thống: * Đảm bảo được sự bí mật của thông tin (Confidentality): Hệ thống phải đảm bảo thông tin trong hệ thông không được phô biên khi không được phép. * Đảm bảo được sự thống nhất, toàn vẹn của thông tin (Integrity): tránh được việc sửa đỗi trái phép thông tin. * Đảm bảo được khả năng hiệu lực (Availability): có thể khởi động bat ky hic nào khi hệ thống cần. * Khả năng xác nhận tính hợp lệ: (Authentication): Có khả năng xác định tính hợp lệ của người sử dụng và hệ thống.
* Đảm bảo khả năng thừa nhận (Nonrepudiation): Đảm bảo rằng thông tin đã gửi được gửi đi và đã được đọc. * Có khả năng kiểm soát truy nhập (Access Control): Đảm bảo chỉ có những người được phép mới có quyên truy nhập thông tin. * Có khả năng sao lưu dữ liệu (Backup): Hệ thống Backup phải hoạt động định kỳ, đảm bảo được sự toàn vẹn thông tin. Một hệ thống an toàn - bảo mật thông tin cao phải được xây dựng trên cơ sở xây dựng một loạt các thủ tục và kê hoạch nhắm mục đích bảo vệ tài nguyên của hệ thông khỏi sự mât mát, phá hủy.
Những mối đe doa hệ thống thường gặp Do đặc điểm của một hệ thống mạng là có nhiều người sử dụng và phân tán về mặt địa lý nên việc bảo vệ các tài nguyên ( mất mát hoặc sử dụng không hợp lệ ) trong môi trường mạng phức tạp hơn nhiều so với môi trường một máy tính đơn lẻ, hoặc một người sử dụng. Hoạt động của người quản trị hệ thống mạng phải đảm bảo các thông tin trên mạng là tin cậy và sử dụng đúng mục đích, đối tượng đồng thời đảm bảo mạng hoạt động ổn định, không bị tấn công bởi những kẻ phá hoại. Có một thực tế là không một hệ thống mạng nào đảm bảo là an toàn tuyệt đối, một hệ thống dù bảo vệ chắc chắn đến mức nào thì cũng có lúc bị vô hiệu hoá bởi những kẻ có ý đồ xấu. Các mối đe doạ đối với hệ thống chính là các lỗ hong bảo mật của các dịch vụ hệ thống đó cung cấp.
Việc xác định đúng đắn các nguy cơ này giúp người quản trị có thể tránh được những cuộ tấn công mạng, hoặc có biện pháp bảo vệ đúng đắn. Đối tượng tấn công mạng Là những cá nhân hoặc các tổ chức sử dụng các kiến thức về mạng và các công cụ phá hoại ( phần mềm hoặc phần cứng ) để dò tìm các điểm yếu, lỗ hỗng bảo mật trên hệ thống, thực hiện các hoạt động xâm nhập và chiếm đoạt tài nguyên mạng trái phép, bao gồm: - Hacker: là những kẻ xâm nhập vào mạng trái phép bằng cách sử dụng các công cụ phá mật khâu hoặc khai thác các điểm yếu của các thành phần truy nhập trên hệ thống. - Masquerader: là những kẻ giả mạo thông tin trên mạng. Có một số hình thức như gia mao dia chi IP, tên miên, định danh người dùng,.
- Eavesdropping: 1a những đối tượng nghe trộm thông tin trên mạng, sử dụng các công cụ sniffer: sau đó dùng các công cụ phan tich va debug để lây được các thông tin có giá trị. Những đối tượng tấn công mạng có thể. nhằm nhiều mục đích khác nhau như: ăn cắp những thông tin có giá trị về kinh tế, phá hoại hệ thống mạng có chủ định, hoặc cũng có thê chỉ là nang h hành động vô ý thức, thử nghiệm các chương trình không kiểm tra cẩn than,. Các lỗ hỗng bảo mật Các lỗ hỗng bảo mật là những điểm yêu trên hệ thống hoặc ẩn chứa trong một dịch vụ mà dựa vào đó kẻ tân công có thê xâm nhập trái phép để thực hiện các hành động phá hoại hoặc chiêm đoạt tài nguyên bât hợp pháp.
Nguyên nhân gây ra những lỗ hỗng bảo mật là khác nhau: có thể do lỗi của bản thân hệ thống, hoặc phần mềm cung cấp, hoặc đo người quản trị yếu kém không hiểu sâu sắc các dịch vụ cung cấp,. Mức độ ảnh hưởng của các lỗ hồng là khác nhau. Có những lỗ hổng chi ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ cung cấp, có những lỗ hồng ảnh hưởng nghiêm trọng tới toàn bộ hệ thống,. Các lỗ hỗng bảo mật sẽ là các điểm yếu có thê tạo ra sự ngưng trệ của dịch vụ, thêm quyền đối với người sử dụng hoặc cho phép các truy nhập không hợp pháp vào hệ thống.
Các lỗ hồng có thể nằm ngay các dịch vụ cung cap nhu sendmail, web, ftp,. Ngoài ra các lỗ hỗng còn tôn tại ngay chính tại hệ điều hành như trong Windows NT, Windows 95, hoặc trong các ứng dụng mà người sử dụng thường xuyên 5 sử dụng như word processing, các hệ databascs. Thông thường một số nguy cơ năm ở các thành phân sau trên hệ thông: Các điêm truy nhập, không kiêm soát được câu hình hệ thông, những nguy cơ trong nội bộ mang,. Có nhiều tổ chức khác nhau tiến hành phân loại các dạng lỗ hông đặc biệt.
Theo cách phân chia của Bộ Quỗc phòng Mỹ, các lô hông bảo mật trên một hệ thông được chia như sau: - Lễ hồng loại C: các lỗ hổng loại này cho phép thực hiện các phương thức tấn công theo DoS { Denial of Services — Tt chối dịch vụ ). Mức độ nguy hiểm thấp, không làm phá hỏng đữ liệu hoặc đạt được quyền truy nhập bất hợp pháp. - Lỗ hồng loại B: các 16 héng cho phép ngudi sir dung cé thém các quyên trên hệ thống mà không cần thực hiện kiểm tra tính hợp lệ nên có thể dẫn đến mất mát hoặc lộ thông tin yêu cầu bảo mật. Mức độ nguy hiểm trung bình.
Những lỗ hỗng này thường có trong các ứng dụng trên hệ thống. - Lỗ hồng loại A: các lỗ hỗng này cho phép người sử dụng ở ngoài có thể truy nhập vào hệ thống bất hợp pháp. Lỗ hông này rất nguy hiểm, có thể làm phá huỷ toàn bộ hệ thống. Chương trình lây nhiễm (Virus) a) Scanner Scanner là một chương trình tự động rà soát và phát hiện những điểm yếu về bảo mật trên một trạm làm việc cục bộ hoặc trên một trạm ở xa.
Với chức năng này, một kẻ phá hoại sử dụng chương trình Scanner có thể phát hiện ra những lỗ hồng về bảo mật trên một server ở xa. Các chương trình scanner thường có một cơ chế chung là rà soát và phát hiện những port TCP/ UDP được sử dụng trên một hệ thống cần tấn công từ đó phát hiện những dịch vụ sử dụng trên hệ thống đó. Sau đó các chương trình scanner gọi lại những đáp ứng trên hệ thống ở xa tương ứng với các dịch vụ mà nó phát hiện ra. Dựa vào những thông tin này, những kẻ tấn công có thể tìm ra những điểm yếu trên hệ thống.
Các chương trình scanner có vai trò quan trọng trong một hệ thống bảo mật, vì chúng có khả năng phát hiện ra những điểm yếu kém trên một hệ thống mạng. Đối với người quản trị mạng những thông tin này là hết sức hữu ích và cần thiết; đối với những kẻ phá hoại những thông tin này sẽ hết sức nguy hiểm. b) Password Cracker Password cracker là một chương trình có khả năng giải mã một mật khẩu đã được mã hoá hoặc có thể vô hiệu hoá chức năng bảo vệ mật khẩu của một hệ thống. Để hiểu cách thức hoạt động của các chương trình bẻ khoá, chúng ta cần hiểu cách thức mã hoá để tạo mật khẩu.
Hầu hết việc mã hoá các mật khẩu được tạo ra từ một phương thức mã hoá. Các chương trình mã hoá sử dụng các thuật toán mã hoá để mã hoá mật khẩu. Nguyên tắc của một số chương trình phá khoá có thể khác nhau. Một vài chương trình tạo một danh sách các từ giới hạn, áp dụng một số thuật toán mã hoá, từ kết quả so sánh với password đã mã hoá cần bẻ khoá để tạo ra một danh sách khác theo một lôgic của chương trình, cách này tuy không chuẩn tắc nhưng khá nhanh vì dựa vào nguyên tắc khi đặt mật khẩu người sử dụng thường tuân theo một số chuẩn tắc đề thuận tiện khi sử dụng.
Đến giai đoạn cuối cùng, nếu thấy phù hợp với mật khẩu đã được mã hoá, kẻ phá khoá sẽ có được mật khẩu dạng text thông thường. Biện pháp khắc phục đối với cách thức phá hoại này là cần xây dựng một chính sách bảo vệ mật khâu đúng đăn. c) Trojans Trojans là một chương trình chạy không hợp lệ trên một hệ thống với vai trò như một chương trình hợp pháp. Những chương trình này thực hiện những chức năng mà người sử dụng hệ thống thường không mong muốn hoặc không hợp pháp.
Thông thường, trojans có thể chạy được là do chương trình hợp pháp đã bị thay đổi mã của nó bằng những mã bất hợp pháp. Các chương trình virus là một loại điển hình của trojans. Những chương trình virus che dấu các đoạn mã trong các chương trình sử dụng hợp pháp. Khi những chương trình này được kích hoạt thì những đoạn mã ân dau sẽ được thực thi để thực hiện một số chức năng mà người sử dụng không biết.
Xét về khía cạnh bảo mật trên Internet, một chương trình trojans sẽ thực hiện một trong những công việc sau: - Thực hiện một vài chức năng hoặc giúp người lập trình phát hiện những thông tin quan trọng hoặc thông tin cá nhân trên một hệ thông hoặc một vài thành phân của hệ thông đó. - Che dấu một vài chức năng hoặc giúp người lập trình phát hiện những thông tin quan trọng hoặc thông tin cá nhân trên một hệ thông hoặc một vài thành phân của hệ thông đó. Một vài chương trình trojans có thể thực hiện cả hai chức năng này. Ngoài ra, một số chương trình trojans còn có thể phá huỷ hệ thông bằng cách phá hoại các thông tin trên ô cứng.
Ví dụ: Virus Melisa lây lan qua đường thư điện tử. Các chương trình trojans có thể lây lan qua nhiều phương thức, hoạt động trên nhiêu môi trường hệ điêu hành khác nhau ( tir UNIX tới Windows, DOS ).