Chương 1: Những lý luận cơ bản về mở rộng cho vay tiêu dùng tại NHTM. Chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay tiêu dùng tại NHTMCP Ngoại Thương – Chi nhánh Hà Nội. Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại NHTMCP Ngoại Thương – Chi nhánh Hà Nội. 3 CHƢƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.
Cho vay tiêu dùng và vai trò của cho vay tiêu dùng tại NHTM.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng. Cho vay tiêu dùng: Là một hình thức cấp tín dụng của các NHTM hoặc TCTC nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của ngƣời tiêu dùng, bao gồm các cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp ngƣời tiêu dùng trang trải, đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống về nhà ở, phƣơng tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế… trƣớc khi họ có đủ khả năng về tài chính để hƣởng thụ, từ đó góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống với cam kết hoàn trả lại cho ngân hàng đầy đủ, đúng thời hạn cả gốc lẫn lãi. Tóm lại CVTD là một hoạt động tất yếu hình thành do yêu cầu của thị trƣờng nhằm giải quyết các vấn đề: ngƣời tiêu dùng có nhu cầu tiêu dùng vƣợt qua khả năng thanh toán hiện tại, các Ngân hàng – ngƣời có tiền mong muốn kiếm lời từ hoạt động này, ngƣời bán hàng mong muốn tiêu thụ đƣợc nhiều hàng hóa hơn.2 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng.
- Quy mô của từng khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay nhiều: Xem xét các yếu tố của loại hình cho vay này, cho thấy mục đích của khoản vay là nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của cá nhân nhƣ xe cộ, mua sắm… nên mức vay không nhiều. Số lƣợng các khoản vay nhiều, đặc điểm này xuất phát từ việc đối tƣợng của CVTD là rất rộng lớn với những nhu cầu chi tiêu phong phú. Điều này làm cho tỷ trọng của CVTD trong tổng dƣ nợ tại các NHTM luôn chiếm tỷ trọng cao và có xu hƣớng tăng trong những năm gần đây. - CVTD có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế: Việc chi tiêu của mỗi cá nhân phụ thuộc vào thu nhập của ngƣời đó.
Khi nền kinh tế phát triển, ngƣời dân có cơ sở để tin rằng thu nhập trong tƣơng lai của mình sẽ tăng lên, do đó sẽ tiêu dùng nhiều hơn. Đồng thời các NHTM cũng lạc quan về khả năng trả đƣợc nợ của khách hàng nên sẽ mở rộng cho vay. Ngƣợc lại, khi nền kinh tế suy thoái, ngƣời tiêu dùng sẽ thắt chặt chi tiêu, hạn chế vay mƣợn từ ngân hàng để giảm chi phí và rủi ro do thu nhập giảm đi. 4 - Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng là kém nhạy cảm với lãi suất: Các khoản vay tiêu dùng thƣờng đƣợc thanh toán trả nợ theo định kỳ, theo hàng tháng, hay hàng quý.
Vì thế, ngƣời tiêu dùng sẽ quan tâm đến số tiền họ trả hàng kỳ hơn là mức lãi suất mà họ phải gánh chịu. Mặt khác, ngƣời đi vay cũng quan tâm đến những tiện ích và giá trị mà việc đi vay mang lại hơn là chi phí phải trả để có khoản vay đó. Vì vậy, lãi suất không phải là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng tới quyết định của ngƣời vay. - Lãi suất CVTD cao, tạo nguồn thu lợi ròng lớn: CVTD là một loại hình tín dụng của NH do đó đối với mỗi khoản vay, các cán bộ NH vẫn phải tiến hành đầy đủ các bƣớc theo đúng quy trình tín dụng nên dẫn tới tốn kém về thời gian, nhân lực… trong khi quy mô từng khoản vay lại nhỏ điều đó làm cho chi phí trên từng đồng vốn vay tiêu dùng cao.
Vì lẽ đó lãi suất CVTD thƣờng cao hơn mức lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh. - Nhu cầu vay tiêu dùng có mối quan hệ chặt chẽ với thu nhập, trình độ học vấn của người vay: Thực tế cho thấy những ngƣời với mức thu nhập cao, có trình độ học vấn có xu hƣớng sử dụng các sản phẩm giá trị, sản phẩm công nghệ hiện đại nên thƣờng phát sinh nhu cầu chi tiêu nhiều hơn khoản tiền họ kiếm đƣợc. Với nguồn thu nhập tốt, họ kì vọng rằng họ có khả năng trả đƣợc các khoản nợ, chính vì vậy đã làm cho ngƣời tiêu dùng tìm đến nguồn tài trợ tài chính từ các NHTM. - Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao: Vì thực tế đối với loại hình cho vay này NH không xác định đƣợc nguồn trả nợ trong tƣơng lai một cách chắc chắn do nó bị ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố bên ngoài nhƣ tình trạng nền kinh tế, tình trang sức khỏe của ngƣời vay… - CVTD có khả năng phân tán rủi ro: Số lƣợng các khoản cho vay lớn trong khi quy mô lại nhỏ nên vốn cho vay của NH không bị tập trung nhiều vào một khách hàng, một khoản vay.
Bên cạnh đó thì khách hàng của CVTD lại rất phong phú về nghề nghiệp, lĩnh vực lao động…nên NH có thể phân tán vốn cho vay trên nhiều ngành nghề kinh tế khác nhau. Do đó CVTD giúp cho NHTM đa dạng hóa danh mục cho vay, phân tán rủi ro. - Tư cách khách hàng là yếu tố khó xác định: Đây là một trong những yếu tố quyết định thiện chí trả nợ của khách hàng tuy nhiên lại chủ yếu phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng.3 Vai trò của cho vay tiêu dùng. Đối với Ngân hàng Thương mại.
CVTD là hoạt động truyền thống, mang lại nguồn lợi cao cho các NHTM. Phát triển hoạt động CVTD giúp NH mở rộng đƣợc khách hàng, tận dụng đƣợc nguồn vốn huy động một cách hiệu quả, đa dạng hóa các sản phẩm và phân tán rủi ro. Đối tƣợng khách hàng trong CVTD rất rộng, từ các cá nhân cho tới hộ gia đình. Thông qua CVTD, NH có điều kiện thuận lợi tiếp cận lƣợng lớn khách hàng khác nhau, mở rộng và phát triển các mối quan hệ với khách hàng.
Bên cạnh đó nhu cầu của khách hàng cá nhân rất đa dạng từ đi vay, gửi tiền, thanh toán, sản phẩm thẻ… tạo điều kiện cho NH thực hiện bán chéo, bán trọn gói các sản phẩm. Do đó tăng thêm lợi nhuận tiềm năng trong tƣơng lai, tăng quy mô hoạt động và tầm ảnh hƣởng trên thị trƣờng tài chính NH. Ngân hàng đi vay để cho vay, trong khi lãi suất CVTD thƣờng cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay SXKD, lƣợng khách hàng cá nhân và hộ gia đình rất lớn với nhu cầu sử dụng vốn đa dạng sẽ giúp NH sử dụng nguồn vốn huy động hiệu quả vì vậy lợi nhuận mà hoạt động này mang lại là không nhỏ. Số lƣợng các khoản vay lớn, không tập trung vào một lĩnh vực cụ thể nào và thu nhập của ngƣời dân ngày càng tăng cao sẽ giúp NH phân tán đƣợc rủi ro, giảm chi phí trích lập dự phòng, tăng lợi nhuận.
Do vậy, việc chú trọng mở rộng CVTD cá nhân và hộ gia đình là một khuynh hƣớng kinh doanh có triển vọng, tiềm năng lớn, mang tính chiến lƣợc và an toàn cho Ngân hàng. Đối với khách hàng Kinh tế phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hàng hóa sản xuất ra nhiều, đa dạng và phong phú hơn, làm cho nhu cầu vật chất của con ngƣời tăng lên. Thu nhập càng cao thì các nhu cầu chi tiêu cũng có xu hƣớng nhiều lên.Tuy nhiên, ngƣời tiêu dùng luôn bị giới hạn bởi khả năng tài chính của bản thân. CVTD sẽ giúp họ thỏa mãn đƣợc những nhu cầu này ở hiện tại và thanh toán bằng nguồn thu nhập kiếm đƣợc trong tƣơng lai.
Điều này đặc biệt quan trọng khi những nhu cầu đó là cấp bách, không thể trì hoãn nhƣ là chi tiêu cho y tế, giáo dục… Qua đó, sẽ tạo động lực thúc đẩy các khách hàng làm việc tốt hơn, tiết kiệm và sử dụng nguồn tài chính của 6 mình hiệu quả hơn. Nhƣ vậy, lợi ích CVTD đem lại là rất lớn, các cá nhân và hộ gia đình sẽ có điều kiện để cải thiện cuộc sống, tiếp cận các dịch vụ, tiện nghi ngay ngày hôm nay. Nhƣ vậy, chính khách hàng mới là ngƣời hƣởng thụ nhiều nhất lợi ích mà hoạt động CVTD mang lại. Tuy nhiên, với khách hàng đi vay thì hình thức vay tiêu dùng này cũng chứa đựng nhiều rủi ro nếu không sử dụng nguồn vốn vay một cách hiệu quả hoặc khi thu nhập trong tƣơng lai biến động giảm.
Chi tiêu vƣợt mức cho phép sẽ làm giảm khả năng tiết kiệm hoặc chi tiêu trong tƣơng lai. Ngoài ra, sẽ là rất tiêu cực nếu ngƣời tiêu dùng lạm dụng hình thức này. Nhƣng không thể phủ nhận tính tích cực và những lợi ích mà CVTD đem lại. Đối với sự phát triển của nền kinh tế.
CVTD cũng là một hình thức tín dụng nên cũng có những vai trò, chức năng nhƣ hoạt động tín dụng NH. Ngoài ra, CVTD với đặc trƣng riêng của nó còn có những ảnh hƣởng tích cực khác đến hoạt động kinh tế xã hội. Lƣợng tiêu dùng trong dân cƣ là một yếu tố quan trọng cấu thành nên hàm cầu hàng hóa, do đó nền kinh tế có tăng trƣởng ở mức cần thiết đƣợc hay không chịu ảnh hƣởng trực tiếp từ tiêu dùng của các cá nhân trong nền kinh tế. Khi nhu cầu tiêu dùng lớn, góp phần tăng sức mua của nền kinh tế, kích thích các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, làm cho quy mô sản xuất tăng nhanh, mức độ đổi mới và phong phú về sản phẩm và chất lƣợng ngày càng lớn.
Điều này làm cho toàn bộ quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối tiêu dùng đƣợc khơi thông, tăng tốc độ chuyển dịch hàng hóa, là đòn bẩy hữu hiệu kích cầu, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngoài ra khi các doanh nghiệp mở rộng sản xuất và hoạt động hiệu quả làm cho thu nhập tăng lên, giải quyết công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Có thể thấy CVTD giúp xóa bỏ vòng luẩn quẩn: thu nhập thấp – tiết kiệm ít – nhu cầu thấp – sản lƣợng thấp. Nhƣ vậy CVTD chính là đòn bẩy quan trọng và hiệu quả kích tích tăng trƣởng kinh tế trong nƣớc phát triển.
Phân loại cho vay tiêu dùng. Phân loại cho vay tiêu dùng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại cho vay là tiền đề để thiết lập các quy trình và điều kiện cho vay nhằm nâng cao hiệu quả và chất lƣợng các khoản vay. Căn cứ vào mục đích cho vay: gồm CVTD cư trú và phi cư trú.