CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN VÈ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ VÀ MỎ RỘNG CHO VAY SẢN XUẨT KINH DOANH ĐÓI VÓI KHÁCH HÀNG BÁN LẺ 1. KHÁCH HÀNG BÁN LẺ VÀ TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Môt số khái niêm: • • Khách hàng bán lẻ: Khách hàng bán lẻ của Ngăn hàng thương mại là các khách hàng cá nhãn từ 18 tuốỉ trở lên, có năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của Pháp luật; có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; có phương án kinh doanh, phương án phục vụ đời song khả thi và phù họp với quy định của Pháp luật; thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chinh phủ và hướng dan của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tín dụng bán lẻ: Tín dụng bán lẻ là một hình thức tài trợ von của ngăn hàng cho các khách hàng là cá nhân theo đó: ngân hàng chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền với nhũng điều kiện nhất định được thoả thuận trong họp đồng nhằm phục vụ mục đích của khách hàng.
Sản phâm của tín dụng bán lẻ rât đa dạng và phong phú, đáp ứng nhu cầu vốn đa dạng của khách hàng bán lẻ. Tín dụng bán lẻ tại các Ngân hàng thương mại hiện có các sán phẩm tiêu biểu như: + Sản phẩm cho vay nhu cầu nhà ở: là sản phẩm cho vay các nhu cầu về nhà ở với mục đích để ở hoặc đầu tư nhỏ, bao gồm: mua nhà ở, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở (đã hình thành, chưa hình thành) giữa khách hàng với bên bán là cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức, chủ đầu tư dự 6 án phát triển nhà ở, xây dựng, cải tạo, sửa chữa nhà ở. + Sản phẩm cho vay mua ôtô: hỗ trợ khách hàng có nhu cầu vay vốn để mua ô tô phục vụ nhu cầu đời sống hoặc phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh. + Sản phâm sản xuất kinh doanh: cho vay đối với cá nhân, hộ sản xuất kinh doanh có nhu cầu vay vốn đe bố sung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Sàn phẩm cho vay du học: cho vay vốn đối với khách hàng cá nhân, nhằm đáp ứng nhu cầu chứng minh năng lực tài chính, thanh toán chi phí học tập và sinh hoạt phát sinh trong quá trình học tập của du học sinh. + Sản phẩm cho vay tiêu dùng tín chấp: là sản phấm vay vốn đối với khách hàng cá nhân có nhu cầu vay vốn phục vụ đời sống với nguồn trả nợ là thu nhập từ tiền lưong (thưởng, phụ cấp) thường xuyên, ổn định hàng tháng/quý và các khoản thu nhập hợp pháp khác. + Sản phẩm cho vay đầu tư và kinh doanh chứng khoán: là sản phấm cho nhà đầu tư vay bằng đồng Việt Nam để kinh doanh chứng khoán và ứng trước tiền. + Sản phấm chiết khấu giấy tờ có giá: mua giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của khách hàng đáp ứng nhu cầu của các khách hàng với hình thức chiết khấu có hoàn lại và chiết khấu không hoàn lại.
Các giấy tờ có giá bao gồm: kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, và các giấy tờ có giá khác. + Sản phấm cho vay bảo đảm bằng giấy tờ có giá, thẻ tiết kiệm: sản phẩm nhằm đáp ứng ngay tức thời nhu cầu ứng trước tiền gửi của khách hàng bằng cách cầm cố giấy tờ có giá, thẻ tiết kiệm. + Nghiệp vụ bảo lãnh cá nhân: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng (Bên được bảo lãnh) dịch vụ bảo lãnh theo yêu cầu của bên thứ ba (Bên nhận bảo lãnh) trong các lĩnh vực giao dịch nhà đất, sản xuất kinh doanh, 7 thương mại. như: bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
+ Phát hành thẻ tín dụng: là sản phẩm kết hợp giữa tín dụng và thanh toán. Nghĩa là khách hàng được quyền chi tiêu trước, trả tiền sau thông qua phương thức chi trả bằng thẻ với một hạng mức nhất định. + Các sản phâm tín dụng khác 1. Đặc điếm hoạt động tín (lụng hán ỉẻ tại các ngân hàng thương mại.
Tín dụng bán lẻ có một số đặc điếm riêng thể hiện sự khác biệt với các loại hình cho vay khác như sau: Đối tượng cho vay: là các khách hàng bán lẻ Quy mô khoản vay: hầu hết các khoản cho vay khách hàng bán lẻ có quy mô nhỏ( so với tín dụng doanh nghiệp), số lượng khoản vay lớn. Mục đích vay: nhàm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình. Khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và on định, khách hàng bán lẻ sẽ có thái độ lạc quan hơn về tương lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu nhập nhiều hơn trong tương lai và do vậy sẽ thúc đay sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái người dân thường có xu hướng giảm tiêu dùng, giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thay vào đó là sẽ tăng cường tiết kiệm và hạn chế vay mượn từ Ngân hàng.
Rủi ro trong hoạt động tín dụng bán lẻ: Xét về tong the, hoạt động tín dụng bán lẻ có mức độ rủi ro thấp hơn tín dụng doanh nghiệp do rủi ro tín dụng được phân bô trên nhiều dầu khách hàng. Tuy nhiên, khi so sánh trên cạnh từng khoản vay riêng biệt thì tính rủi ro của từng khoản tín dụng bán lẻ lại cao hơn so với khoản tín dụng doanh nghiệp. Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả 8 năng chi trả hay khi khách hàng cố tinh không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức khoẻ, công việc. Việc thấm định khả năng trả nợ của các cá nhân hoặc hộ gia đình cũng khó khăn.
Lãi suất cho vay. do quy mô của các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản cho vay dế mua bất động sản), dẫn đến chi phí cho vay (về thời gian, nhân lực thấm định, quản lý các khoản cho vay này) cao, đồng thời rủi ro trong hoạt động tín dụng bán lẻ đối với từng khách hàng được đánh giá là cao hon so với tín dụng doanh nghiệp. Do vậy, lãi suất cho vay trong hoạt động tín dụng bán lẻ thường cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác của NHTM. Hạn mức cho vay khách hàng bán lẻ: là số tiền tối đa mà ngân hàng cho khách hàng vay.
Hạn mức cho vay khách hàng bán lẻ được xác định dựa trên các yếu tố như: nhu cầu vốn của khách hàng, khả năng trả nợ, giá trị của tài sản đảm bảo. Đối với các hình thức vay, các ngân hàng thường quy định các hạn mức khác nhau dựa trên sản phẩm cho vay, nhu cầu vốn, giá trị tài sản đảm bảo. Cuối cùng, ngân hàng sẽ so sánh nhu cầu vay hợp lý (Nhu cầu vay hợp lý của khách hàng = nhu cầu vốn hợp lý - vốn tự có của khách hàng - vốn khách hàng vay mượn từ nguồn khác) và hạn mức tín dụng, từ đó xác định sổ tiền cho vay. Neu nhu cầu vay hợp lý > hạn mức tín dụng thì ngân hàng sẽ cho khách hàng vay theo hạn mức tín dụng, nếu nhu cầu vay hợp lý < hạn mức tín dụng thì ngân hàng sẽ cho khách hàng vay số tiền theo nhu cầu vay hợp lý của khách hàng.
Như vậy, sẽ vừa thoả mãn nhu cầu vay của khách hàng vừa đê đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Vai trò của tín dụng bán lẻ trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thưong mại. Tín dụng bán lẻ là một mảnh đất màu mỡ nhưng chưa được khai phá đúng mức ở Việt Nam trước đây. Nguyên nhân là do mức độ phố quát dịch vụ 9 ngân hàng trên phạm vi toàn quốc và toàn bộ dân số ở Việt Nam vần còn rất khiêm tốn so với tiêu chuẩn của khu vực và thế giới, một thực trạng không thể tránh khỏi khi mức độ phát triển kinh tế vẫn ở mức thấp.
Trong khi đó, phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ cần một sự đầu tư lớn vào mạng lưới, dịch vụ, nhân sự và công nghệ hiện đại. Do đó, trong bối cảnh nhu cầu tiềm năng còn khá hạn chế, chi phí dịch vụ bán lẻ tính trên đầu người hay giao dịch sẽ trở nên quá lớn, không hiệu quả với đa số ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Nhưng nếu tìm cách tăng phí dịch vụ để bù đắp chi phí thì số lượng khách hàng muốn và sẵn lòng sử dụng dịch vụ bán lẻ của ngân hàng sẽ sụt giảm một cách tự nhiên hoặc bị các ngân hàng đối thủ cạnh tranh “vợt” mất khi họ cũng đang tích cực tìm kiểm cơ hội phát triển. Ngược lại, cho vay doanh nghiệp và dự án thì lại “nhàn” hơn và có lợi nhuận hon nhiều, cũng như ít rủi ro hơn so với cho vay bán lẻ, đặc biệt là cho vay các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), vốn được ngầm định là không thể phá sản và nhà nước bảo lãnh cho các khoản vay.
Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây, hoạt động ngân hàng bán lẻ đã trực tiếp và gián tiếp nhận được những cú hích phát triển mới. Yeu tố quan trọng đầu tiên phải kể đến là cho vay doanh nghiệp và dự án ngày càng phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn. Sự cạnh tranh thị trường cho vay doanh nghiệp và dự án ngày càng trở nên khốc liệt với sự ra đời và tăng trưởng về quy mô và khả năng “bao sân” của nhiều ngân hàng trong nước, cũng như sự đổ bộ của nhiều ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Song song với đó là sự co hẹp về quy mô, đồng thời đi kèm với sự xuống cấp về sức khỏe tín dụng của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN), một đối tượng cho vay chính và “màu mõ” với nhiều ngân hàng thương mại trong và ngoài nước, từ đó đã làm giảm đáng kể các cơ hội cho vay của các ngân hàng thương mại vốn chi' tập trung vào nhóm đối tượng 10 khách hàng cho vay này.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế sụt giảm xuống mức thấp trong mấy năm trước cũng đã làm co hẹp thị trường cho vay doanh nghiệp và dự án khi số lượng doanh nghiệp mới ra đời giảm, số doanh nghiệp đóng cửa và giải thể gia tăng. Nợ xấu gia tăng và chất lượng tín dụng đáng ngờ của nhiều doanh nghiệp cũng làm hẹp cửa cho vay các đối tượng này.