CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam, các DNNVV chiếm tới 96% tổng số các doanh nghiệp, tạo ra khoảng 60% công ăn việc làm cho nền kinh tế, tạo ra 50% doanh số hay giá trị gia tăng; đóng góp 34% cho hoạt động xuất khẩu trực tiếp, 15% giá trị ròng FDI và hoàn thành khoảng 50% số dự án FDI vào các nước.
Qua các thống kê trên ta có thể thấy DNNVV chiếm số lượng và đóng góp rất lớn cho nền kinh tế quốc dân. Vậy thế nào là một DNNVV hay dựa vào các tiêu chí nào để xác định một doanh nghiệp là nhỏ và vừa? Có rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại, tuy nhiên cách phân loại doanh nghiệp dựa trên độ lớn hay quy mô của các doanh nghiệp là phổ biến nhất trên thế giới. Ở tất cả các quốc gia trên thế giới doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tồn tại và phát triển như một thành phần tất yếu không thể thiếu của nền kinh tế. Tại Mỹ, DNNVV được định nghĩa là các doanh nghiệp hoạt động độc lập, có dưới 500 nhân viên và không chiếm lĩnh vị trí thống lĩnh trong thị trường, lĩnh vực mà mình hoạt động.
Ở Nhật, các tiêu chí này khác nhau giữa các ngành nghề. Đối với ngành sản xuất thì DNNVV là doanh nghiệp có số lượng lao động bình quân là dưới 300 người, tổng vốn đầu tư dưới 300 triệu yên, các ngành thương mại, dịch vụ thì định mức của các tiêu chí này lần lượt là dưới 100 người, tổng vốn đầu tư 100 triệu yên (với ngành thương mại), 50 triệu yên (với ngành dịch vụ). Tại Việt Nam trước năm 2001, 4 theo quy định của Chính phủ tại công văn số 681 /CP-KTN ban hành ngày 20-6-1998 theo đó doanh nghiệp nhỏ và vừa là “doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD - theo tỷ giá giữa VND và USD tại thời điểm ban hành công văn)”. Tiêu chí này đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung về các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam phục vụ cho việc hoạch định chính sách.
Trên thực tế tiêu chí này không cho phép phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ. Vì vậy, tiếp theo đó là Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đưa ra chính thức định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đó đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Các doanh nghiệp cực nhỏ được quy định là có từ 1 đến 9 nhân công, doanh nghiệp có từ 10 đến 49 nhân công được coi là doanh nghiệp nhỏ”. Hiện nay, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được tuân theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 20 đến 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa.
Việc xác định các tiêu chí và định mức để đánh giá một doanh nghiệp và DNNVV có sự khác biệt giữa các quốc gia trên thế giới. Ngay trong cùng một quốc gia, các tiêu chí này cũng có thể thay đổi theo thời gian tùy vào tình hình nền kinh tế, sự phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế của quốc gia đó. Tuy nhiên, các tiêu chí phổ biến được nhiều quốc gia sử dụng là dựa vào số lượng lao động bình quân sử dụng trong năm, tổng mức vốn đầu tư và tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp.1: Tiêu chí phân loại DNNVV của một số quốc gia và khu vực Q.vực Phân loại Số lao động Vốn đầu tư Doanh thu DNNVV bình quân A. NHÓM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN 1.
Hoa kỳ Nhỏ và vừa 0-500 không quy định không quy định 2. Nhật - Ngành sản xuất 1-300 ¥ 0-300 triệu không quy định - Ngành thương 1-100 ¥ 0-100 triệu mại 1-100 ¥ 0-50 triệu - Ngành dịch vụ 3. EU Siêu nhỏ < 10 không quy định không quy định Nhỏ < 50 < €7 triệu Vừa < 250 < €27 triệu 4. Australia Nhỏ và vừa < 200 không quy định không quy định 5.
Canada Nhỏ < 100 Không quy định < CDN$ 5 triệu Vừa < 500 CDN$5-20 triệu 6.NewZealan Nhỏ và vừa < 50 không quy định không quy định d 7. Korea Nhỏ và vừa < 300 không quy định không quy định 8. Taiwan Nhỏ và vừa < 200 < NT$ 80 triệu < NT$ 100 triệu 9. Russia Nhỏ 1-249 không quy định không quy định Vừa 250-999 10.
China Nhỏ 50-100 không quy định không quy định Vừa 101-500 11. Poland Nhỏ < 50 không quy định không quy định Vừa 51-200 12. Hungary Siêu nhỏ 1-10 không quy định không quy định Nhỏ 11-50 Vừa 51-250 B. NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 1.
Thailand Nhỏ và vừa không quy < Baht 200triệu không quy định định 2. Malaysia Ngành sản xuất 0-150 không quy định RM 0-25 triệu 3. Philippine Nhỏ và vừa < 200 Peso1,5-60triệu không quy định 4. Indonesia Nhỏ và vừa không quy < US$ 1 triệu < US$ 5 triệu định 5.Brunei Nhỏ và vừa 1-100 không quy định không quy định (Nguồn: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa, APEC, UN/ECE, 2010) 6 Qua bảng 1.1 ta thấy, hầu hết các quốc gia lấy số lượng lao động bình quân sử dụng làm tiêu chí quan trọng để xác định quy mô của một doanh nghiệp.
Điều này là hợp lý hơn so với việc lấy các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ như tổng vốn đầu tư, doanh thu hàng năm…vì các chỉ tiêu này thiếu ổn định do thường xuyên bị ảnh hưởng bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát.Số lượng lao động bình quân là chỉ tiêu không chỉ có tính ổn định theo thời gian mà còn thể hiện phần nào về tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang tham gia. Ngân hàng thế giới (WB) và các tổ chức quốc tế khác cũng sử dụng tiêu chí lao động bình quân khi phân loại doanh nghiệp. Ngân hàng thế giới (WB) phân doanh nghiệp ra làm 4 loại tương ứng với số lao động như sau: doanh nghiệp siêu nhỏ (số lao động < 10 người), doanh nghiệp nhỏ (số lao động từ 10 người đến dưới 50 người), doanh nghiệp vừa (số lao động từ 50 người đến 300 người), doanh nghiệp lớn (số lao động > 300 người). Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa Mới gần đây nhất chính phủ mới ra nghị định 56/2009/NĐ-CP về hỗ trợ phát triển DNNVV, trong đó định nghĩa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: Siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể được thể hiện qua bảng sau: 7 Bảng 1.2: Tiêu chí xác định DNNVV tại Việt Nam theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP Quy mô Dn siêu DN nhỏ DN vừa nhỏ (vi mô) Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động nguồn vốn động nguồn vốn động I.Nông 10 lao 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên nghiệp, động trở trở xuống đến 200 đến 100 tỷ 200 đến lâm nghiệp xuống lao động đồng 300 lao và thủy động sản II.Công 10 lao 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên nghiệp và động trở trở xuống đến 200 đến 100 tỷ 200 đến xây dựng xuống lao động đồng 300 lao động III.Thương 10 lao 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 mại và động trở trở xuống đến 50 lao đến 50 tỷ đến 100 dịch vụ xuống động đồng lao động (Nguồn: nghị định 56/2009/NĐ-CP về hỗ trợ phát triển DNNVV) Với tiêu chí xác định dựa vào quy mô như trên thì hiện tại Việt Nam có khoảng hơn 50.000 doanh nghiệp là quy mô nhỏ và vừa.
Việc xác định được lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng là điều kiện thuận lợi để giúp chính phủ thực thi các chính sách điều hành kinh tế của mình. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Đặc trưng về vốn Theo khái niệm về DNNVV ở Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 23/06/2009 thì loại hình doanh nghiệp này có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng. Có thể thấy điều kiện thành lập một DNNVV không đòi hỏi số vốn lớn, do đó, hầu hết các DNNVV nước ta có quy mô vốn tự có nhỏ và tình trạng thiếu vốn để sản xuất kinh doanh là phổ biến.
Do vốn và tài sản ít nên các DNNVV càng khó tiếp cận với các nguồn vốn vay của ngân hàng. Nguồn vốn của các doanh nghiệp này được hình thành từ: nguồn vốn tự có 8 của chủ Doanh nghiệp, nguồn huy động từ người thân,…nguồn vốn tự có thường chỉ đáp ứng được nhu cầu về vốn trong thời gian ngắn hạn, mua sắm trang thiết bị. Ngoài ra còn nguồn từ vay các tổ chức tín dụng và nguồn vốn khác như FDI, ODA…nguồn vốn này dùng để đáp ứng cho quá trình sản xuất. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận nguồn vốn này rất khó do các doanh nghiệp nhỏ và vừa không đáp ứng được điều kiện do các tổ chức tín dụng đưa ra.
Mặt khác, do nhu cầu vốn và quy mô sản xuất không lớn nên các DNNVV thường có vòng quay vốn nhanh hơn các doanh nghiệp lớn. Đây cũng là đặc điểm dễ nhận thấy của các doanh nghiệp vừa vả nhỏ. Đặc trưng về trình độ công nghệ, thiết bị Do nguồn tài chính hạn chế, việc tiếp cận vốn trên thị trường vốn của các DNNVV gặp nhiều khó khăn. Do quy mô vốn nhỏ nên các DNNVV không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại.
Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh tranh trên thị trường kém. DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường, công tác marketing còn kém hiệu quả. Điều đó làm cho các mặt hàng của DNNVV khó tiêu thụ trên thị trường.