PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với tỷ lệ đồi núi chiếm ¾ diện tích lãnh thổ. Trong đó địa hình đồi núi thấp dƣới 1.000m chiếm tới 85% lãnh thổ, núi cao trên 2.000m chỉ chiếm 1% diện tích lãnh thổ. Đây chính là điều kiện thuận lợi tạo nên một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, có tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc và phát triển nguồn dƣợc liệu, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc trong nƣớc và hƣớng tới xuất khẩu.
Việt Nam là một quốc gia có truyền thống lâu đời trong sản xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập và cạnh tranh gay gắt ngày nay, Việt Nam có rất nhiều lợi thế từ điều kiện tự nhiên ƣu đãi, tính đa dạng sinh học và kho tàng tri thức sử dụng phong phú của các cộng đồng dân tộc khác nhau trong việc phát triển nông sản, dƣợc liệu và các sản phẩm có nguồn gốc từ thảo dƣợc. Theo thống kê của Viện Dƣợc liệu, Việt Nam ghi nhận có trên 5.000 loài thực vật và nấm, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc. Trong số những loài đã công bố, có nhiều loài đƣợc xếp vào loại quý hiếm trên thế giới nhƣ cây hồi, quế, atisô, sâm Ngọc Linh, chè hoa vàng… Nhằm phát huy lợi thế này cũng nhƣ bảo đảm nguồn thuốc phục vụ điều trị và chăm sóc sức khỏe nhân dân, Đảng, Chính phủ, ngành Y tế và các ngành liên quan đã ban hành hơn 50 văn bản chính sách khác nhau và nhận đƣợc sự đồng thuận rộng rãi của các doanh nghiệp và cộng đồng.
Năm 2013 Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1976/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển dƣợc liêu Việt Nam đến năm 2020 và định hƣớng đến 2030. Theo đó dƣợc liệu đƣợc phát triển trên cả 8 vùng trồng chính để trồng 54 loài cây dƣợc liệu trên diện tích 28.000 ha rừng tự nhiên. Quyết định này là tiền đề để quy hoạch và phát triển nguồn dƣợc liệu đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nƣớc. Hiện tại trên cả nƣớc đã có một số trung tâm đƣợc gây dựng để thu thập và bảo tồn các loại dƣợc liệu của Việt Nam nhƣ Vƣờn cây thuốc Yên Tử (Do ĐH Dƣợc Hà Nội phối hợp cùng các đơn vị sở tại tổ chức), hay Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội (thuộc quản lý của Vƣờn Dƣợc liệu - Bộ Y tế).
Ra đời từ năm 2012. 7 Ngày 17/3/2021, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 376/QĐ-TTg phê duyệt chƣơng trình phát triển công nghiệp dƣợc, dƣợc liệu sản xuất trong nƣớc đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 trong đó mục tiêu tổng quát là xây dựng ngành công nghiệp dƣợc trong nƣớc đạt mức độ phát triển ở trình độ cao, góp phẩm bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lƣợng, an toàn, hiệu quả và giá hợp lý. Phát triển dƣợc liệu và các sản phẩm từ nguồn dƣợc liệu trong nƣớc thành lĩnh vực sản xuất hàng hóa có chất lƣợng và giá trị cao, có sức cạnh tranh trên thị trƣờng trong nƣớc và trên thế giới. Dù đang triển khai tích cực nhiều biện pháp đồng bộ nhƣng việc phát triển ngành dƣợc liệu đang gặp không ít khó khăn, thách thức với tình trạng dƣợc liệu bẩn, dƣợc liệu giả, rác dƣợc liệu, khai thác tràn lan, kỹ thuật nuôi trồng kém, nhiều bài thuốc dân gian quý giá bị mai một.
Những cây thuốc có giá trị đƣợc thƣơng mại hoá, bị khai thác cạn kiệt, với giá thành ngày càng cao. Những cây ít giá trị hoặc chƣa đƣợc nghiên cứu cũng bị tàn phá nhƣờng chỗ cho việc sản xuất nông nghiệp, công nghiệp. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu gây trồng cây thuốc còn hạn chế chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng của thị trƣờng cũng là nguy cơ rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của cây thuốc tự nhiên. Sự khai thác tự nhiên không có bảo tồn hay tình trạng khai thác bừa bãi là nguy cơ đe dọa sự tồn tại các loài cây thuốc bản địa, đi kèm với nó là mất đi những bài thuốc gia truyền, bài thuốc dân tộc.
Trong bối cảnh hiện nay, nếu doanh nghiệp không tự chủ trong việc nghiên cứu, xây dựng chiến lƣợc, chủ động hội nhập và nắm lấy cơ hội phát triển doanh nghiệp sẽ bỏ lỡ những cơ hội quý giá giúp ngành dƣợc liệu Việt Nam phát triển xứng đáng với tiềm năng vốn có. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu, từng bƣớc phát triển tiềm năng và phát huy lợi thế cạnh tranh về dƣợc liệu ở Việt Nam. Với tâm huyết và mong muốn bảo tồn đƣợc các loài dƣợc liệu, thuốc quý hiếm trƣớc nạn phá rừng và khai thác tận diệt các loài dƣợc liệu quý cũng nhƣ giữ gìn và phát huy nhiều bài thuốc bí truyền, công ty TNHH Sâm Nhất Dƣơng Sinh đã từng bƣớc đầu tƣ nghiên cứu và xây dựng thành công một mô hình tiên phong trong trồng, bảo tồn, nghiên cứu và phát triển cây thuốc quý tại Việt Nam. Kết quả nghiên 8 cứu của công ty không chỉ tạo ra một mô hình đa dạng sinh học dƣới tán rừng, vừa góp phần bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nƣớc, phát huy tài nguyên bản địa mà còn là một mô hình đem lại sinh kế bền vững cho nông dân miền núi trong việc tạo ra một chuỗi liên kết từ trồng, sản xuất, chế biến và tiêu thụ Nhất Dƣơng Sinh.
Khi xây dựng tầm nhìn và định hƣớng phát triển, công ty đặt mục tiêu lớn nhất là nghiên cứu sâu, đƣa các kết quả nghiên cứu khoa học chính xác về cây thuốc Nhất Dƣơng Sinh để phục vụ đời sống xã hội. Đặc biệt là hƣớng đến việc đƣa sản phẩm lên thành thƣơng hiệu quốc gia, phục vụ cho đối tƣợng khách hàng là những nguời bệnh, bệnh nhân ung thƣ, những ngƣời có nhu cầu nâng cao sức khoẻ cá nhân. Chính vì vậy, tác giả đề xuất đề tài: “Giải pháp Makerting Mix tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Sâm Nhất Dƣơng Sinh tại thị trƣờng Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình. Tổng quan nghiên cứu Tổng quan các nghiên cứu quốc tế về hoạt động Marketing Mix Trong nghiên cứu của Al Thabbah và các cộng sự (2022) về “Hiệu quả của chiến lược Marketing Mix của các công ty dược phẩm đối với hoạt động kê đơn của bác sĩ ở Jordan: Một nghiên cứu cắt ngang (Cross-sectional Study)” đã nhằm đánh giá ảnh hƣởng của chiến lƣợc MM 4Ps cho dƣợc phẩm (sản phẩm, giá cả, phân phối và truyền thông marketing) đối với thực hành kê đơn (prescribing practices) của bác sĩ ở Jordan.
Một nghiên cứu khảo sát định lƣợng đƣợc thực hiện từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2021 trên các bác sĩ đang hành nghề ở Jordan. Tổng cộng có 315 bác sĩ tham gia nghiên cứu. Nhìn chung, các bác sĩ tham gia cho thấy mức độ ảnh hƣởng từ trung bình đến cao từ các yếu tố MM, với số điểm trung bình là 141,0 (IQR: 118,0-156,0) trên tổng số 185, chiếm 76,2%. Điểm trung bình thấp nhất đƣợc tìm thấy đối với các công cụ quảng cáo đƣợc các công ty dƣợc phẩm sử dụng, với điểm trung bình là 48,5 (IQR: 40,0–56,0) trên 70, chiếm 69,3%.
Điểm trung bình cao nhất đƣợc tìm thấy là dành cho chiến lƣợc định giá do các công ty dƣợc phẩm thực hiện, với điểm trung bình là 25,0 (IQR: 18,8–28,0) trên 30, chiếm 83,3%. Qua đó, các tác giả kết luận rằng các bác sĩ trong nghiên cứu bị ảnh hƣởng nhiều bởi các chiến lƣợc MM, đặc biệt là chiến lƣợc giá. Các nhà hoạch định chính sách nên đảm bảo mối quan hệ cân bằng với các công ty dƣợc phẩm và bác sĩ. Nên đảm bảo rằng các chiến lƣợc 9 xúc tiến có tác động tích cực đến sức khỏe của bệnh nhân.
Chính phủ nên giảm thuế thuốc để giảm chi phí chung cho bệnh nhân. Công trình của Zheng và các cộng sự (2023) đã nghiên cứu về “Sử dụng chiến lược marketing xã hội 4Ps để khắc phục tình trạng do dự tiêm chủng”. Mục tiêu đề tài hƣớng đến là Để khám phá vai trò của chiến lƣợc marketing xã hội 4P đối với tình trạng do dự tiêm vắc xin và tác động của nó đối với việc bao phủ vắc xin công cộng. Chiến lƣợc MM 4P là một công cụ marketing xã hội đã giải quyết nhiều vấn đề công cộng và tiêm chủng.
Tỷ lệ do dự tiêm vắc xin và tỷ lệ bao phủ liều vắc xin COVID-19 đầu tiên trong nhóm đối tƣợng mục tiêu đã đƣợc thu thập và so sánh trƣớc và sau chiến lƣợc MM 4P. Tỷ lệ bao phủ (coverage) chỉ đạt 6,19% trong quá trình tiêm chủng định kỳ. Tuy nhiên, tỷ lệ ngần ngại tiêm chủng của nhóm đối tƣợng mục tiêu đã giảm (52% so với 3,1%, trƣớc và sau chiến lƣợc 4Ps) và mức độ bao phủ (94,8%, so với phƣơng pháp tiêm chủng thông thƣờng, p < 0,001) tăng đáng kể sau khi dùng 4Ps chiến lƣợc marketing xã hội. Hơn nữa, chiến lƣợc marketing xã hội 4Ps cũng củng cố việc hoàn thành liều vắc xin COVID-19 thứ hai.
Dựa vào kết quả này, các học giả kết luận rằng chiến lƣợc marketing xã hội 4Ps làm giảm đáng kể sự do dự về vắc xin và nâng cao phạm vi tiêm chủng, đồng thời cung cấp một phƣơng pháp xúc tiến hiệu quả và đáng tin cậy hơn trƣớc các đột biến vi rút hiện tại và các loại vắc xin mới trong tƣơng lai. Tổng quan các nghiên cứu trong nƣớc về hoạt động Marketing Mix Nghiên cứu “Mô tả chiến lược marketing hỗn hợp của công ty Trách nhiệm hữu hạn Novopharm giai đoạn 2016 - 2019” (Phạm Văn Trƣờng và các cộng sự, 2016) nhận định rằng Marketing đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của các nhà sản xuất và công ty. Marketing trong ngành dƣợc phẩm khác với các ngành khác và chịu ảnh hƣởng bởi các quy định cụ thể của ngành dƣợc phẩm và các văn bản pháp luật của ngành. Đề tài đƣợc thực hiện với 2 mục tiêu: Mô tả các chiến lƣợc marketing tổng hợp của công ty TNHH Novopharm giai đoạn 2016 – 2019 và nhận xét kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Novopharm sau khi áp dụng chiến lƣợc marketing kết hợp nhất thông tin với một số chỉ tiêu.
Phƣơng pháp nghiên cứu trong đề tài gồm mô tả hồi cứu cắt ngang, thu thập thông tin. Kết quả nghiên cứu cho thấy đến năm 2019, công ty có tổng cộng 37 sản phẩm, phát triển theo cả 3 chiều: chiều dài, chiều rộng, chiều sâu.