CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING 1. LÝ THUYẾT VỀ MARKETING 1. Khái niệm marketing Dù marketing đã tồn tại từ lâu nhưng các khái niệm marketing mới chỉ xuất hiện từ khoảng đầu thế kỷ XX.
Hiện có rất nhiều khái niệm về markting, một số khái niệm có thể kể đến như sau: Marketing là một chức năng của tổ chức, là một tập hợp các quá trình để tạo ra, truyền đạt, chuyển giao giá trị cho khách hàng và để quản lý các mối quan hệ với khách hàng sao cho có lợi cho tổ chức và những thành phần có liên quan với tổ chức. (American Marketing Association) Marketing là một quy trình xã hội mà trong đó, các cá nhân và nhóm dành được những điều mình cần thông qua việc tạo dựng, đề xuất và trao đổi các sản phẩm và dịch vụ tương xứng về về giá trị với những cá nhân, tổ chức khác. (Philip Kotler & Kevin Keller, 2013, trang 9) McCarthy (1960) cho rằng marketing là quá trình thực hiện các hoạt động nhằm đạt những mục tiêu của tổ chức bằng cách tiên đoán nhu cầu của khách hàng để điều khiển các dòng hàng hóa từ nhà sản xuất tới khách hàng. Theo Gronroos (1994) “Marketing là quá trình thiết lập, duy trì, và củng cố các mối quan hệ với khách hàng và các đối tác có liên quan để thỏa mãn mục tiêu của các thành viên trong mối quan hệ này” và ông cho rằng marketing ngày nay đã chuyển từ marketing mix sang marketing quan hệ,.
Marketing là quá trình mà các công ty tạo ra giá trị cho khách hàng và xây dựng mối quan hệ bền vững với khách hàng để nhận được giá trị trao đổi từ khách hàng. Qua những định nghĩa trên ta có thể hiểu marketing là quá trình tìm hiểu nhu cầu của thị trường và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp để đáp ứng đúng nhu cầu đó thông qua mối quan hệ tương tác giữa sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp với nhu cầu của khách hàng, đối thủ cạnh tranh.2 Chức năng của marketing Marketing có các chức năng cơ bản dựa trên sự phân tích môi trường marketing như: dự báo, hoạch định sản phẩm, hoạch định xúc tiến,. Phân tích môi trường và nghiên cứu marketing giúp dự báo những yếu tố ảnh hưởng đến sự thành của doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể thích ứng, giúp doanh nghiệp thu thập những thông tin cần thiết để giải quyết các vấn đề marketing. Marketing giúp doanh nghiệp có thể đưa ra những cách thức thâm nhập những thị trường mới, từ đó mở rộng được thị trường.
Marketing giúp doanh nghiệp phân tích người tiêu dùng, xem xét và đánh giá những đặc điểm, nhu cầu, quá trình mua của người tiêu dùng nhằm lựa chọn đối tượng khách hàng mục tiêu và có các chính sách marketing phù hợp. Thông qua việc tìm hiểu thị trường, nhu cầu khách hàng, doanh nghiệp sẽ: - Hoạch định sản phẩm một cách hợp lý hơn như: phát triển, duy trì sản phẩm nào, thiết kề hình ảnh, nhãn hiệu sản phẩm ra sao, sản phẩm nào cần loại bỏ. - Hoạch định phân phối hiệu quả hơn bằng cách xây dựng mối liên hệ với trung gian phân phối, quản lý dự trữ, vận chuyển hàng hóa,. một cách hợp lý.
- Hoạch định xúc tiến tốt hơn thông qua các hình thức quảng cáo, quan hệ công chúng, khuyến mãi. - Hoạch định giá phù hợp hơn nhờ những kỹ thuật định giá từ đó có sự điều chỉnh hợp lý về giá và sử dụng giá như một yếu tố tích cực hay thụ động. Việc hoạch định, thực hiện và kiểm soát các hoạt động marketing giúp doanh nghiệp đánh giá được những rủi ro, lợi ích của các quyết định. Các doanh nghiệp cần tìm hiểu nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm mà doanh nghiệp mình sản xuất hoặc kinh doanh để sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và tối đa hóa lợi nhuận.
Sự thành công của mỗi chiến lược marketing cơ bản đều phải dựa trên đối tượng khách hàng mục tiêu và nhu cầu của họ, doanh nghiệp sẽ tập trung vào các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của nhóm khách hàng mục tiêu đó. Bằng việc thiết lập chiến lược 123doc 7 marketing các hoạt động marketing của doanh nghiệp được thực hiện theo một quy trình có mục đích cụ thể phù hợp với những đặc điểm thị trường của doanh nghiệp. Vậy chiến lược marketing là gì? Chiến lược marketing của doanh nghiệp có thể được hiểu như sau: Theo Philip Korler: “ Chiến lược marketing là một hệ thống luận điểm logic, hợp lý làm căn cứ chỉ đạo cho một doanh nghiệp tổ chức, tính toán cách giải quyết những nhiệm vụ marketing của mình. Nó bao gồm các chiến lược cụ thể đối với các thị trường mục tiêu và mức chi phí cho marketing”.
Chiến lược Marketing thể hiện sự cố gắng nhằm đạt tới một vị trí mong muốn xét trên vị thế cạnh tranh và sự biến động của môi trường kinh doanh. Chiến lược marketing là một chiến lược chức năng, nó được xem là một nền tảng có tính định hướng cho việc xây dựng các chiến lược chức năng khác trong doanh nghiệp. Chiến lược marketing vạch ra những nét lớn trong hoạt động marketing của doanh nghiệp, nhờ đó một đơn vị kinh doanh hy vọng đạt các mục tiêu marketing của mình.3 Vai trò của marketing Marketing đóng vai trò như là một cầu nối trung gian giữa doanh nghiệp và thị trường, marketing giúp đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp hướng đến thị trường. Như vậy, marketing giúp tạo ra khách hàng cho doanh nghiệp.
Mỗi kế hoạch sản xuất, kinh doanh muốn thành công thì phải xuất phát từ thị trường và việc thực hiện các hoạt động marketing hiệu quả trong công tác kế lập hoạch sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện tốt phương châm này. Markting góp phần vào việc giải quyết những vấn đề cơ bản trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động marketing giúp doanh nghiệp quyết định cách thức cạnh tranh của mình trên thị trường, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp. Ngoài ra, marketing còn giúp doanh nghiệp giải quyết các mối quan hệ lợi ích giữa khách hàng và doanh nghiệp 123doc 8 một cách hài hòa thông qua việc xây dựng và áp dụng các chính sách phù hợp với từng đối tượng khách hàng, khuyến khích nhân viên sáng tạo, cải tiến các quy trình nghiệp vụ nhằm cung cấp cho khách hàng nhiều tiện ích nhất khi sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp.
Marketing góp phần tạo vị thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Thông qua việc nghiên cứu thị trường. Quá trình marketing trong doanh nghiệp Theo Philip Kotler (1999): “Doanh nghiệp cần thực hiện tốt những bước cơ bản sau: R = research: Nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu thị trường là chức năng liên kết khách hàng và công chúng với những nhà Marketing thông qua thông tin.
Thông tin được sử dụng để xác định những cơ hội, những vấn đề marketing, tạo ra, thay đổi, giám sát và đánh giá các hoạt động marketing, nâng cao hiểu biết về marketing như một quá trình. Nghiên cứu thị trường giúp chỉ ra các thông tin cần thiết để giải quyết những vấn đề này, phương pháp thu thập thông tin, quản lý và thực hiện quá trình thu thập dữ liệu, phân tích các kết quả, truyền đạt các kết quả tìm thấy và tác động của những kết quả đó. STP = segmentations targeting positioning: Phân khúc thị trường, xác định thị trường mục tiêu và định vị thị trường. Phân khúc thị trường là chia thị trường không đồng nhất thành các khúc thị trường đồng nhất để làm nổi rõ lên sự khác biệt về nhu cầu, tính cách hay hành vi.
Lựa chọn thị trường mục tiêu là quyết định phân phối nguồn lực Marketing của doanh nghiệp tại một hay một số khúc thị trường mà doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh. Định vị thị trường là thiết kế một sản phẩm có những đặc tính khác biệt so với sản phẩm dịch vụ của đối thủ cạnh tranh và tạo cho nó một hình ảnh riêng đối với khách hàng. MM = Marketing mix: Marketing hỗn hợp. Marketing hỗn hợp là tập hợp những công cụ tiếp thị mang tính chiến thuật mà công ty phối hợp để tạo ra đáp ứng như mong muốn trong thị trường mục tiêu.
Khái niệm marketing hỗn hợp được 123doc 9 Borden đề xuất trong Hội nghị của Hiệp hội Marketing Mỹ năm 1953 và trở nên phổ biến sau khi bài báo “Các khái niệm marketing hỗn hợp” xuất bản vào năm 1964. Từ 12 thành phần marketing hỗn hợp của Borden, Edmund Jerome McCarthy đã hệ thống lại thành 4 yếu tố 4P: sản phẩm (Product), giá cả (Price), phân phối (Place) và xúc tiến (Promotion). Để phù hợp với marketing dịch vụ, Booms và Bitner đã thêm 3 yếu tố gồm con người (People), quy trình (Process) và phương tiện hữu hình (Physical evidence) vào 4P ban đầu tạo thành 7 yếu tố 7P của marketing dịch vụ. I = implementation: Thực hiện.
Doanh nghiệp thực hiện các hoạt động marketing trong phạm vi, thời gian, ngân sách, và chất lượng đã hoạch định. Doanh nghiệp cần tổ chức nguồn lực hợp lý để thực hiện tốt các hoạt động marketing, nhằm đạt được hiệu quả cao. C = control: Kiểm soát. Doanh nghiệp thu nhận thông tin phản hồi, đánh giá kết quả, tiếp tục thực hiện hay cải thiện chiến lược STP Phân khúc – xác định thị trường mục tiêu – định vị và các chiến thuật MM Marketing hỗn hợp.
Quá trình kiểm soát giúp chiến lược Marketing hoạt động đúng mục tiêu. Đồng thời quá trình này cũng giúp rút kinh nghiệm cho những hoạt động marketing trong tương lai.2 Hoạt động nghiên cứu thị trường 1. Phân khúc thị trường Thị trường là tập hợp những người hiện tại đang mua và những người sẽ mua một loại sản phẩm nhất định. Một thị trường là tập hợp những người mua và những người bán.
Phân khúc thị trường là chia một thị trường thành các mảng xác định rõ ràng. Một phân khúc thị trường bao gồm một nhóm các khách hàng có cùng nhu cầu và mong muốn. Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm các khách hàng có cùng nhu cầu hoặc mong muốn mà doanh nghiệp có khả năng đáp ứng, đồng thời có thể tạo ra ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh và đạt được các mục tiêu marketing đã định. Cơ sở để phân khúc thị trường Trong hoạt động marketing thường sử dụng 4 cơ sở chính để phân khúc thị trường: địa lý, nhân khẩu học, hành vi và tâm lý.
Phân khúc theo địa lý: là chia thị trường thành các đơn vị địa lý như quốc gia, tỉnh, vùng, thành phố hoặc các vùng ngoại ô.