Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về marketing du lịch địa phương và kinh nghiệm thu hút khách du lịch quốc tế của các nước trên thế giới. Chương 3: Tình hình khách du lịch đến Việt nam và thực trạng Marketing (2008~2013) Chương 4: Một số giải pháp Marketing nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Đà Nẵng đến năm 2020 CHUONG 2: NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN TRONG VIEC PHAT TRIEN DU LICH O MOT DIA PHUONG 2. Cơ sở lý luận về phát triển du lịch 2. Các quan điểm về du lịch, thị trường du lịch và loại hình du lịch.
Du lịch Theo Tổ chức Du lịch Thế giới(World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoai môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác han nơi định cư. Tại hội nghiên Liên Hiệp Quốc về Du lịch tai Roma — Italia (21/8-5/9/1963), cdc chuyên gia đưa ra những nhận định về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi thường xuyên cư trú của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải nơi làm việc của họ.
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2006) có quy định “Du lịch là hoạt động có liên quan của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (7, trang 1) Ở gốc độ kinh tế vĩ mô, chúng ta có thể nhìn nhận du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác. Theo đó, ngành không những tạo ra việc làm và thu nhập mà còn tạo ra những quyết định mang lợi ích phụ liên quan đến các địa điểm kinh doanh hoặc dân cư mới. Thị trường du lịch Trên quan điểm Marketing, thị trường du lịch được chia làm thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Thị trường du lịch nói chung, theo quan điểm của Philip Kotler (2006), bao gồm “tất cả các khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đôi để thoả mãn nhu cầu hay mong muốn đó” (7, trang 12) Trong ngành du lịch quan điểm về thị trường còn mang một số nét đặc thù riêng: “Thị trường du lịch là một bộ phận của thị trường chung phản ánh toàn bộ mối quan hệ trao đổi hàng hoá và dịch vụ du lịch giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu, và toàn bộ các mỗi quan hệ thông tin kinh tế - kỹ thuật gắn các mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch” (7, trang 23) Như vậy, thị trường du lịch cũng như những thị trường hàng hóa thông thường khác.
Trong đó, các sản phẩm du lịch được trao đổi dựa trên nhu cầu của du khách và khả năng cung ứng của các doanh nghiệm kinh doanh du lịch 2. Phân loại thị trường du lịch Có rất nhiều cách phân loại thị trường du lịch khác nhau, tuỳ theo tiêu thức đánh giá. Những tiêu thức phân loại gồm: Phân loại theo phạm vi lãnh thổ (phân loại theo vị trí địa lý); phân loại theo đối tượng phục vụ; phân loại theo mục đích của du khách; phân loại theo đặc điểm tiêu dùng các dịch vụ du lịch và phân loại theo chiến lược phân đoạn thị trường.Tùy theo mục đích, chiến lược, tình hình cụ thể mà những tiêu thức này được lựa chọn làm hướng tiếp cận và nghiên cứu. Phân loại theo lãnh thổ: Thị trường du lịch bao gồm thị trường trong nước (thị trường nội địa) và thị trường ngoài nước (thị trường quốc tế).
Trong đó, thị trường nội địa được xác định là thị trường du khách là người dân và người nước ngoải đang sinh sống, làm việc và học tập trong nước, và ngược lại. Ngoài ra, thị trường quốc tế được chia thành thị trường gửi khách (outbound) và thị trường nhận khách (inbound) căn cứ vào vị trí không gian xuất phát và tiếp nhận khách du lịch. Phân loại theo đối tượng phục vụ bao gồm „ thị trường cho khách du lịch là những người làm công vụ, kinh doanh; thị trường cho những người đi thăm người thân, bạn bè; và thị trường cho khách du lịch thuần tuý Phân loại theo mục đích của khách du lịch: Bao gồm các mục đích khác nhau như: du lịch để khám phá và tận hưởng cảm giác mạnh; du lịch để nghỉ ngơi, giải trí, và du lịch vì các mục đích khác. Phân loại theo chiến lược phân đoạn thị trường: gồm có thị trường trọng điểm, thị trường không trọng điểm và thị trường mục tiêu.
Trong đó,” thị trường trọng điểm của một điểm đến là những thị trường mục tiêu quan trọng nhất đối với sự phát triển du lịch của điểm đến trong giai đoạn cụ thể. Nó được xác định dựa trên tầm quan trọng của thị trường mục tiêu và dựa vào nhiều tiêu chí định tính và định lượng khác nhau để đánh giá như: quy mô của thị trường, khả năng cạnh tranh của điểm đến ở thị trường, khả năng phụ cụ đáp ứng nhu cầu thị trường. Ngược lại, thị trường không trọng điểm là thị trường mà ngành không ưu tiên khai thác. Cuối cùng, thị trường mục tiêu nói chung của một doanh nghiệp hoặc một ngành, “Là tập hợp những khách hàng có cùng nhu cầu hoặc mong muốn mà doanh nghiệp có khả năng đáp ứng, đồng thời có thể tạo ra ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh và đạt được các mục tiêu marketing đã định” (15, trang 14) Phân loại theo loại hình các dịch vụ du lịch: thị trường du lịch bao gồm: thị trường các cơ sở cung ứng dịch vụ lưu trú, vận chuyển khách du lịch; thị trường vui chơi, giải trí; thị trường hội nghị, hội thảo; thị trường kinh doanh kết hợp với du lịch.
Trong luận văn này, để tiện cho việc phân tích, người viết sử dụng tiêu chí lãnh thổ dé phân loại thị trường và đặc biệt hướng trọng tâm vào việc nghiên cứu thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt Nam (Đà Nẵng). Cơ sở thực tiễn phát triển du lịch 2.1 Kinh nghiệm marketing du lịch địa phương của một số địa phương trên thế giới — Thai Lan Thái Lan từ lâu đã trở thành kinh đô du lịch của châu Á nói chung và khu vực Asean nói riêng. Du lịch Thái tự khẳng định mình bằng hàng loạt các giải quốc tế: “Quốc gia du lịch tốt nhất thế giới 2006” do tạp chí The Travel news Nauy” trao tặng, “Danh sách vàng” của — the Luxury Travel, lọt vào top “l0 nước du lịch tốt nhất Châu Á” - tap chi “Travel and Leisure”. That vay, du lich da trở thành ngảnh kinh tế mũi nhọn, trọng tâm của nền kinh tế Thái với đóng góp hằng năm vào GDP là 16.3% (2011) bất chấp những biến cố, thăng trầm mà quốc gia này phải trải qua trong suốt chặn đường phát triển bao gồm trận lụt lịch sử 2011, bạo loạn chính tri của phen Áo đỏ (2010) và đại dich SAR.
Người Thái đã biến tận dụng tốt những lợi thế có sẵn như: (1) vị trí thuận lợi, là trung tâm thương mại hàng không lý tưởng của khu vực Châu Á, với những chuyến bay từ nhiều nơi trên thế giới quá cảnh tới. (2) tài nguyên du lịch đồi dao va da dang với biển, núi, di tích văn hóa lịch sử độc đáo (3) cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch phát triển mạnh bao gồm đường xá, nhà hàng khách sạn, quà lưu niệm và các nơi vui chơi giải trí (4) Truyền thống văn hóa và sự mến khách của nhân dân Thái Lan. Ngoài những lợi thế sẵn có, sẽ là thiếu sót lớn khi nhắc tới thành công và kinh nghiệm của ngành du lịch Thái mà không nhắc đến những chiến dịch Marketing du lịch thực sự hiệu quả của Tổng cục du lịch Thái Lan qua các năm (TAT). TAT hỗ trợ các địa phương bảo tồn các tài nguyên du lịch, văn hóa và truyền thống địa phương để thu hút khách du lịch, hổ trợ quảng bá cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đồ lưu niệm.
TAT thành lập Cảnh sát du lịch và Trung tâm hỗ trợ khách du lịch để đảm bảo an toàn và hỗ trợ các thông tin cần thiết cho du khách. Ngoài ra, các chiến lược xúc tiễn được thực hiện một các bài bản và thành công ngoai sức tưởng tượng như: Năm du lịch Thái Lan (1987), Amazing Thái Lan (1997), Năm phép lạ (2012), “Amazing Thailand Grand Sale 2013”. Ngoài ra, TAT còn liên tiếp tổ chức các hoạt động xúc tiến du lịch khác như tô chức các hội chợ, gần đây nhất là hội chợ Thương Mại Du Lịch 2012. Kênh tuyên truyền khá đặc biệt và hiệu quả của Thái Lan đáng được ghi nhận và học tập và kênh báo chí.
Ngay sau những biến cố lớn về chính trị và thiên tai, ngành du lịch Thái đều mời cánh báo chí từ khắp nơi trên thế giới đến để tận mắt chứng kiến họ đã sẵn sàng để mở cửa đón du khách quay lại. Trong hội chợ Thương Mại Du Lịch 2012, cánh báo chí được đưa di khắp nơi để cảm nhận hết những sản phẩm du lịch chất lượng của Thái Lan, và với những gì mắt thấy tai nghe, báo chí không thể nào không viết tốt về du lịch Thái và từ đó, những tin tức này được truyền đi khắp nơi trên thế giới. Với cách làm này, du lịch Thái được quảng bá một cách tiết kiệm, nhưng lại đạt hiệu quả rat cao. Về chiến lược và sản phẩm, TAT không ngừng lên kế hoạch, khảo sát và nghiên cứu về những điểm đến du lịch cũng như những nhu cầu du lịch cơ bản và đa dạng từ đó định hướng cho các tổ chức khác phát triển theo.