chương 1, nghiên círu thực nghiệm được tác giả tông kết các lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng hoạt động Marketing Mix thẻ tín dụng của MB Bank - CN Quận 12. Tong quan về thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Lịch sử hình thành thê tín dụng quốc tế Trong quá trình phát triển, con người vì nhu cầu tìm kiểm phương tiện trung gian trong trao đôi, giao dịch hàng hóa đã phát minh ra tiền xu, tiền giấy, ngân phiếu, chi phiếu. Thẻ NH ra đời đã mang lại một cuộc cách mạng trong hoạt động thanh toán của hệ thống NH bằng việc ứng dụng những thành tựu công nghệ thông tin tiên tiến nhất.
Thẻ NH là một phương thírc thay thế tiền mặt hàng đầu trong các giao dịch tiêu dùng. Tốc độ phát hành và thanh toán thẻ liên tục tăng ở mírc kỷ lục trong các năm qua. Xuất phát từ một ý tưởng về một loại phương tiện thanh toán thay thế cho tiền mặt có thê sử dụng ờ nhiều nơi, vào năm 1949 ông Frank MC Namara - một doanh nhân người Mỹ đã mày mò sáng tạo và đã cho ra đời loại thẻ mang tên “Diners Club”. Với lệ phí hằng năm là 5 USD, những chủ thẻ Diners Club có thê ghi nợ khi ăn ờ 27 nhà hàng sang trọng nam trong hoặc ven thành pho New York.
Những tiện ích mà nhìíng chiếc thẻ đầu tiên mang lại đã nhanh chóng chinh phục được đông đảo KH. Các KH - chủ thẻ rất hài lòng về sự tiện lợi khi sir dụng thẻ cũng như các khoản vay từ thẻ. Người tiêu dùng khi sở hữu phương tiện thanh toán này có thê mua hàng hóa, dịch vụ trước mà không phải trả tiền mặt ngay khi đó. Mặc dù hàng tháng họ phải hoàn trả toàn bộ hoặc một phần các khoản chi tiêu nhưng họ đã có được một khoản ứng trước không phải trả lãi trong thời gian tối đa lên đến 45 ngày (Pettigrew & Moschis, 2012) 6 về phía các cơ sờ cung ứng hàng hóa dịch vụ, phương thức thanh toán này cũng hấp dần họ.
Họ nhận thấy rằng mặc dù phải trả phí trên mỗi món hàng bán ra nhưng bù lại các KH - chủ thẻ dường như thoải mái hơn trong các quyết định mua hàng hóa dịch vụ và thực sự đã mua nhiều hàng hóa dịch vụ hơn so với khi dùng tiền mặt. Bên cạnh đó, việc sử dụng hệ thống tín dụng của các tô chức NH sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí hơn so với việc thiết lập một mạng lưới tín dụng cục bộ. Đen năm 1951 hơn 1 triệu Dollars được tính nợ và số lượng thẻ ngày càng tăng lên, công ty phát hành thẻ Diners Club nhanh chóng thu lãi. Tiếp nối thành công của thẻ Diners Club, năm 1955 hàng loạt thẻ mới ra đời như: Trip Charge, GoldenKey, Gourment Club, Esquire lub.
Đen năm 1958 Carte Blanche và American Express ra đời và thống lĩnh thị trường (Bergsten, 1966) Visa tiền thân là Bank Americard do Bank of American phát hành vào năm 1960 khi NH nhận thấy rằng phần lớn thẻ lúc bấy giờ chi dành cho giới doanh nhân giàu có trong khi đó nhân viên văn phòng mới là đối tượng sử dụng thẻ chủ yểu cho thị trường tương lai. Bank Americard phát triên rộng khắp và ngày càng nhiều các tô chức tài chính NH trờ thành thành viên của Bank Americard. Thành công của Bank Americard đã thúc đây các nhà phát triên thẻ khác trên khắp nước Mỹ bắt đầu tìm kiếm phương thức cạnh tranh với loại thẻ này. Năm 1977, Bank Americard đôi tên thành Visa.
Ngày nay thẻ Visa là loại thẻ có quy mô phát triên lớn nhất toàn cầu (Hawes và cộng sự, 1978). Master Card ra đời vào năm 1966 với tên gọi ban đầu là Master Charge do hiệp hội NH gọi tắt là ICA (Interbank Card Assciation) phát hành thông qua các thành viên trên thế giới (Master Charge đôi tên thành Mastercard vào năm 1979). JCB xuất phát hr Nhật Bản, ra đời vào năm 1961 bởi NH Sanwa, mục tiêu khai thác thị trường du lịch và giải trí. Người Nhật đã chứng tỏ công nghệ thẻ không phải là độc quyền tuyệt đối của các tô chức Mỳ.
Năm 1981, với mục tiêu mờ rộng hơn nữa việc chấp nhận JCB card, JCB quyết định chuyên mình trở thành loại thẻ tín dụng do Nhật Bản phát hành được chấp nhận trên toàn thế giới (Cray, 1990).1: So sánh sự phát triến của thẻ Visa, Mastercard và JCB Visa Mastercard JCB Tổng doanh thu 29,310 tỳ USD 22,237 tỷ USD 2,8 tỷ USD năm 2022 Số thẻ lưu hành 3,3 tỷ thẻ 1,012 tỷ thẻ 150 triệu thẻ Số quốc gia và vùng lãnh tho trên Hơn 200 Hơn 210 Hơn 190 thế giói chấp nhận thẻ Số điểm ATM (Không có so Hơn 25 triệu Hơn 9 triệu chấp nhận rút tiền liệu) Hơn 30 triệu diêm Hơn 25 triệu diêm 28,6 triệu diêm So diem chấp nhận giao dịch trên toàn giao dịch trên toàn giao dịch trên thanh toán thế giới thế giới toàn thế giới Nguồn: Tác giá tông hợp từ Trung tâm thè MB Bank Hiện nay thẻ tín dụng được xem như một công cụ thanh toán hiện đại, văn minh, thuận tiện, đặc biệt tại các nước phát triển. Sự phát triên không ngừng của khoa học công nghệ đã liên tục cải tiến và hoàn thiện hơn tính năng của thẻ tín dụng, giúp cho thẻ tín dụng trờ thành phương thức thanh toán nhanh gọn, chính xác, an toàn, tiện lợi. Khái niệm về thè tín dụng Thẻ tín dụng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời hr phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triên gan liền với sự ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực NH. Thẻ tín dụng là công cụ thanh toán do NH phát hành thẻ cap cho KH sử dụng thanh toán hàng hóa dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số drr tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp.
Thẻ tín dụng còn dùng đê thực 8 hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM. Đây là một hình thức thay thể cho việc thanh toán trực tiếp, được thực hiện dựa trên uy tín của KH (Chakravorti, 2003). Thẻ tín dụng được làm theo kích cỡ tiêu chuân quốc tế và bao gồm các yếu tố: nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên là logo cùa nhà phát hành thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực và tên cùa chủ thẻ. Ngoài ra trên thẻ còn có thê có tên công ty phát hành thẻ hoặc thêm một số yếu tố khác theo tiêu chuân cùa tô chức hoặc tập đoàn thẻ quốc tế.
Theo Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (2007) đã đưa ra quy định, quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ NH, trong đó đã đưa ra khái niệm “Thẻ tín dụng” và “Thẻ quốc tế”, cụ thê như sau: - “Thẻ quốc tế": Là thẻ được tô chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành đê giao dịch trong và ngoài lãnh thô nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa Việt Nam; hoặc là thẻ được tô chức nước ngoài phát hành và giao dịch trong lãnh thô nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa Việt Nam (Khoản 3 Điều 2). - “Thẻ tín dụng”: Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tô chức phát hành thẻ. Dựa vào các khái niệm nêu trên, tông họp lại “Thẻ tín dụng quốc tế": là phương tiện thanh toán trên toàn thế giới do NH phát hành theo thỏa thuận với chủ thẻ đê đáp ứng các nhu cầu tín dụng, thanh toán trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được xác định trước. Thẻ tín dụng quốc te được coi là một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng đối với các chù thẻ.
Thẻ tín dụng quốc tế khác với bất kỳ hình tlứrc tín dụng nào trước đó bởi vì nó là một sản phẩm kết hợp của tín dụng và thanh toán. Trong các hình thức tín dụng trước đây, khi NH đồng ý cho KH vay ư'rc là giao cho KH trực tiếp quyền sử dụng một lượng vốn nhất định. Còn khi NH cap cho KH một thẻ tín dụng quốc tế thì chưa có một lượng tiền thực tế nào được giải ngân. NH chỉ đưa ra một sự 9 đảm bảo về quyền được sử dụng một lượng tiền trong phạm vi hạn miic cùa KH.
Việc KH có thực sự vay hay không phụ thuộc vào quá trình sử dụng thẻ cùa KH sau đó. Khi KH sử dụng thẻ tín dụng đê mua hàng hóa và dịch vụ tóc là họ đang sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt qua NH. NH đảm nhận vai trò kế toán hộ cho các chủ thẻ trên tài khoản tín dụng, số tiền thanh toán sẽ được ghi vào bên Nợ của tài khoản, được hiểu là một khoản cho vay. KH phải tiến hành thanh toán cho sao kê khi đến hạn.
Tín dụng thẻ có tính tuần hoàn và cho phép người sử dụng mở rộng khả năng tài chính trong ngan hạn. Chi cần KH tuân thù đúng các quy định trong hợp đồng sử dụng thẻ thi sẽ luôn có quyền sử dụng thẻ. Hình thức sừ dụng và thanh toán thê tín dụng KH sử dụng thẻ tín dụng khi thanh toán mua hàng hóa trực tiếp tại các diêm bán hàng, KH cam kết sẽ trả tiền cho NH phát hành thẻ. Chủ thẻ thê hiện cam kết này cách ký tên lên hóa đơn có ghi chi tiết của thẻ cùng với số tiền, hoặc bằng cách nhập một mật mã cá nhân (PIN).
Chủ thẻ cũng có thê rút tiền mặt hr tài khoản thẻ tín dụng (tiền mặt ứng trước) nếu muốn. Khi KH sử dụng thẻ tín dụng đê thanh toán mua hàng trực ưiyến, website mua hàng sẽ sử dụng nhiều hệ thống điện tử đê xác minh tính hợp lệ của thẻ cũng như kiêm tra xem hạn mức tín dụng cùa thẻ còn đủ chi trả cho lần mua sắm đó không. Việc xác minh được thực hiện bằng một đầu đọc thẻ (POS - Point of Sale) kết nối vào NH thu nhận (acquiring bank) của người bán hàng. Hàng tháng, chủ thẻ nhận được một bảng kê trong đó thê hiện các giao dịch thực hiện bằng thẻ, các khoan phí và tông số tiền nợ.
Sau khi nhận bảng kê, chù thẻ có quyền khiếu nại bác bỏ một số giao dịch mà chù thẻ cho là không đúng. Neu không khiếu nại gì, trước ngày đen hạn, chù thẻ phải chi trả ít nhất phần thanh toán tối thiêu (đê tránh việc tính phí chậm trả do không thanh toán đúng hẹn) hoặc trả hết phần nợ.