chương I, tác giả đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về Marketing trong hoạt động ngân hàng. + Trong chương 2, Luận văn đã trình bày một cách tổng quát về tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV Gia Lai. Phân tích thực trạng triển khai chính sách Marketing. Qua đó, tác giả đưa ra những hạn chế và nguyên nhân khi thực hiện chính sách marketing cần khắc phục.
+ Trong chương 3, tác giả đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách marketing tại BIDV Gia Lai Bên cạnh những vấn đề đã giải quyết được, đề tài vẫn còn những tồn tại như: tác giả chưa trình bảy được thực trạng mục tiêu marketing, phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu của chi nhánh. Việc phân phân đoạn thị trường, xác định thị trường mục tiêu cũng là căn cứ để đưa ra những giải pháp cho thị trường mục tiêu. 'Từ những giá trị tham khảo của các tài liệu, công trình nghiên cứu cùng với thực tế công tác marketing tại Agribank chỉ nhánh tỉnh Kon là những cơ sở lý luận và thực tiễn giúp tác giả đi sâu và làm rõ thực trạng hoạt động marketing trong cho vay hộ gia đình, cá nhân tại chỉ nhánh và đưa ra giải pháp mà ngân hàng cần thực hiện để hoàn thiện hoạt động marketing trong cho vay hộ gia đình, cá nhân tại Agribank chỉ nhánh tỉnh Kon Tum. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE MARKETING DICH VU 1.
KHAL QUAT CHUNG VE MARKETING DICH VỤ 1. Khái niệm về marketing dịch vu a. Marketing Có nhiều định nghĩa về marketing, tuỳ theo từng quan điểm, góc độ nhìn nhận mà giữa các định nghĩa có sự khác nhau nhưng bản chất của chúng thì không thay đồi, tựu chung lại ta có 3 khái niệm cần quan tâm sau: - Khái niệm của Viện nghiên cứu Marketing Anh: “Markeing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quan l toàn bộ các hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự của một mặt hàng cụ thể, đến việc đưa hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng đảm bảo cho công ty thu hút được lợi nhuận dự kiến” [4, tr. Khái niệm này liên quan đến bản chất của marketing là tìm kiếm và thoả mãn nhu cầu, khái niệm nhấn mạnh đến việc đưa hàng hoá tới người tiêu dùng các hoạt động trong quá trình kinh doanh nhằm thu hút lợi nhuận cho công ty.
Tức là nó mang triết lý của marketing là phát hiện, thu hút, đáp ứng nhu cầu một cách tốt nhất trên sơ sở thu được lợi nhuận mục tiêu. - Khái niệm của Hiệp hội Marketing Mỹ: “Marketing là quá trình lập ké hoạch và thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mãi và phân phối sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi nhằm thoả mãn các mục tiêu của cá nhân và tổ chức” [4, tr. 1§] Khái niệm này mang tính chất thực tế khi áp dụng vào thực tiễn kinh doanh. Qua đây ta thấy nhiệm vụ của Marketing là cung cấp cho khách hang những hàng hoá và dịch vụ mà họ cần.
Các hoạt động của marketing như việc. lập kế hoạch marketing, thực hiện chính sách phân phói và thực hiện các dịch vụ khách hàng,. nhằm mục đích đưa ra thị trường những sản phẩm phù hợp và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hơn hẳn đối thủ cạnh tranh thông qua các nỗ lực marketing của mình. - Khá êm Marketing ctia Philip Kotler: “Marketing là hoạt động của con người hướng tới thoả mãn như câu và ước muôn của khách hàng thông qua quá trình trao đổi” [18, tr.
Định nghĩa này bao gồm cả quá trình trao đồi trong kinh doanh như là một bộ phận của marketing. Hoạt động marketing diễn ra trong tắt cả các lĩnh vực trao đổi nhằm hướng tới thoả mãn nhu cầu với các hoạt động cụ thể trong. thực tiễn kinh doanh. Marketing dịch vụ Marketing dịch vụ là sự phát triển lý thuyết chung của Marketing vào.
lĩnh vực dịch vụ. Marketing dịch vụ có thể được định nghĩa như sau: “ Marketing dịch vụ là sự thích nghỉ lý thuyết hệ thống với những quy luật của thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tô chức. Marketing được duy. trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ với nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tản cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội” [15].
Marketing dịch vụ ngân hàng thuộc nhóm marketing dịch vụ. Như vậy, có thể hiểu: Marketing dịch vụ ngân hàng là một hệ thống các biện pháp tô chức quản lý của một ngân hàng để đạt được mục tiêu đặt ra là thoả mãn tốt nhất nhu cầu về vốn, về các dịch vụ khác của ngân hàng đối với nhóm khách hàng lựa chọn bằng các chính sách, các biện pháp hướng tới mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Sự cần thiết của marketing trong lĩnh vực ngân hàng. Trong ngân hàng, hoạt động marketing đã bắt đầu vào những năm 70.
Ở mỗi giai đoạn ngân hàng có vai trò khác nhau đối với nền kinh tế phù hợp với tiến trình lịch sử. Có rất nhiều lý do để các ngân hàng cần phát triển marketing trong giai đoạn hiện nay, đó là: Ngành công nghiệp ngân hàng có khuynh hướng quốc tế hoá. nhập lẫn nhau vào các thị trường của các nhà cạnh tranh nước ngoài ngày cảng tăng, hệ quả của nó là dẫn đến sự cạnh tranh với các ngân hàng địa phương. Phấn đấu cho một thị trường tài chính hiện đại, hội nhập cùng khu vực và thế giới và đáp ứng những thay đổi của nhu cầu của thị trường trong điều kiện có nhiều nhà cung cấp tương đồng buộc các ngân hàng phải xây dựng chiến lược marketing riêng để thu hút khách hàng.
Các công nghệ mới ra đời đã có những ảnh hưởng lớn đối với lĩnh vực công nghiệp ngân hàng, nhất là đối với quá trình tự động hoá hoạt động ngân hàng như việc đưa vào sử dụng hệ thống kết nối cơ sở dữ liệu tập trung, online, các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt: thẻ, máy ATM. Như vậy là nhiều ngân hàng đã ngày càng tự động hoá, xuất hiện khả năng mở các dịch vụ thông tin một loại dịch vụ [16] Cạnh tranh ngày càng gia tăng, chỉ phí gia tăng, năng suất đình trệ, trong. khi đó chất lượng dịch vụ đòi hỏi ngày càng tốt hơn, do đó nhiều Ngân hang đã quan tâm đến Marketing. Cạnh tranh đã tăng lên trong cả hoạt động ngân hàng phục vụ các khách hàng cá nhân.
Các quỹ thị trường tiền tệ và các tổ hợp dịch vụ tài chính tỉnh vi hơn được lập ra đẻ thu hút số tiền gửi lớn càng làm phức tạp hơn hoạt động ngân hàng. Cạnh tranh trong lĩnh vực cho vay cá nhân cũng tăng lên. Các công ty sử dụng các thẻ tín dụng thông qua các Ngân hàng đã cấp các khoản tín dụng rẻ hơn, các cửa hàng đã cung ứng cho khách hàng hệ thống tín dụng tự động tái lập các công ty tài chính tín dụng cấp các 10 khoản tín dụng thế chấp tài sản. Marketing trở thành cầu nối gắn kết hoạt động của ngân hàng với thị trường đồng thời góp phan tao vi thé canh tranh cho ngân hàng.
Marketing là công cụ hữu hiệu nhất trong giai đoạn hiện nay. để nâng cao sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng [ 17], [19]. - Marketing là công cụ kết nói hoạt động của các NHTM với thị trường Định hướng thị trường đã trở thành điều kiện tiên quyết trong hoạt động. của các NHTM ngày nay.
Có gắn với thị trường, hiểu được sự vận động của thị trường, nắm bắt được sự biến đồi liên tục của nhu cầu khách hàng trên thị trường cũng như khả năng tham gia của bản thân ngân hàng mình thì mới có thể có những chính sách hợp lý nhằm phát huy tối đa nội lực giành lấy thị phan. Như vậy NHTM nào có độ gắn kết với thị trường càng cao, khả năng. thành công của ngân hàng đó càng lớn và ngược lại [1] ~ Marketing là công cụ hữu hiệu thu hút khách hang Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng là rất dễ bắt chước, do vậy rất khó giữ bản quyền. Mặt khác, so với các ngân hàng thương mại trên thế giới, nhìn chung các dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam hiện nay đều thuộc loại dịch vụ truyền thống và khá giống nhau giữa các NHTM.
Nhằm thu hút và giữ chân khách hàng, các NHTM đã chú ý hơn đến việc thiết kế và triển khai dịch vụ mới phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, kết quả hoạt động của các dịch vụ mới này thường không cao, chủ yếu mới ở mức độ thử nghiệm, thậm chí có một số dịch vụ thất bại. Dẫn đến tình trạng này là do hầu hết các dịch vụ mới ra đời đều theo ý kiến chu quan của các ngân hàng. Thị trường thâm nhập không được đo lường trước, tiện ích của dịch vụ mới không phù hợp với nhu cầu của khách hàng, chất lượng dịch vụ không 6n định.
Khắc phục tình trạng này, không còn cách nào khác là các ngân hàng phải xây dựng một chiến lược marketing hợp lý từ khi tìm hiểu nhu cầu khách hàng cho đến khi sản phâm dịch vụ đến tay khách hàng, thoả mãn tối đa nhu cầu ll của họ. Chỉ có bằng cách đó ngân hàng mới có thể đưa đến cho khách hàng những dịch vụ phù hợp nhất, nhanh nhất, với giá cả hợp lý nhất, tạo cho. khách hàng cảm giác thoải mái nhất, và thuận tiện trong giao dịch. Làm được như vậy thì không có lý do nào mà khách hàng lại không đến với ngân hàng.
Hơn nữa, sản phẩm của ngân hàng có tính công cộng và xã hội hoá cao tức là những đánh giá của các khách hàng đã sử dụng dịch vụ có ảnh hưởng rất lớn không những đến quyết định của bản thân khách hàng đó về việc có tiếp tục duy trì quan hệ với ngân hàng không mà còn đến cả quyết định của nhóm khách hàng tiềm nămg. Chính vì vậy, có thẻ khẳng định rằng nhờ có hoạt động marketing mà ngân hàng mới có thể giữ chân khách hàng củ và thu hút thêm khách hàng mới một cách hiệu quả nhất [ ].