Chương 1: Cơ sở lý thuyết về kiểm soát RRTD KHDN của NHTM Chương 2: Thực trạng kiểm soát RRTD cho vay KHDN tại Agribank Chi nhánh Bình Dương Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát RRTD trong cho vay KHDN tại Agribank Việt Nam Chi nhánh Bình Dương 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Quan điểm về rủi ro tín dụng ngân hàng Theo hai nhà kinh tế A. Lange [Financial Institutions Management – A Modern Perpective] thì RRTD đƣợc định nghĩa là “khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể đƣợc thực hiện đầy đủ về cả số lƣợng và thời gian”.
Theo quan niệm của Ủy ban Basel: “RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận” [Basel Committee on Banking Supervision (September 2000), Principal for the Management of Credit Risk]. Theo khái niệm này thì RRTD có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa khách hàng với ngân hàng mà trong cả các hoạt động khác nhƣ đầu tƣ, phái sinh mà ngân hàng thực hiện. Tuy nhiên, nhƣ đã giới thiệu trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ nghiên cứu RRTD trong hoạt động cho vay của ngân hàng, vì vậy RRTD có thể hiểu đơn giản là sự vi phạm không hoàn trả nợ từ phía khách hàng vay. Theo cách hiểu tại các ngân hàng Việt Nam thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh NH nƣớc ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” [Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013].
Nhƣ vậy, từ nhiều định nghĩa khác nhau, đa dạng, có thể tóm lƣợc nội dung về RRTD nhƣ sau: 10 RRTD là rủi ro do bên đƣợc cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Nền kinh tế thị trƣờng, trong môi trƣờng kinh doanh luôn biến động, thì tính ổn định trong các đơn vị, các tổ chức kinh tế mang tính chất tƣơng đối. Khi doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng để kinh doanh mà gặp phải rủi ro mất khả năng thanh toán nợ, chính là rủi ro của Ngân hàng. Rủi ro rất đa dạng, nó có thể là rủi ro bị ứ đọng vốn, rủi ro thiếu vốn khả dụng, rủi ro khi các vật đảm bảo tín dụng không còn giá trị nhƣ khi đánh giá ban đầu trƣớc khi cho vay, rủi ro không thu hồi đƣợc nợ.
Trong phạm vi của bài viết này, tác giả chỉ xem xét rủi ro khi ngân hàng không thu hồi đƣợc nợ hay còn gọi là nợ quá hạn, nợ khó đòi.1: Mô hình rủi ro tín dụng của Ngân hàng (Nguồn:Tổng hợp của tác giả) 1. Các hình thức rủi ro tín dụng Hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn những rủi ro gắn liền với khả năng trả nợ của khách hàng, RRTD bao gồm: Rủi ro đọng vốn 11 Đây là loại RRTD do khách hàng không hoàn trả khoản nợ đúng hạn theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do trễ hẹn. Điều này sẽ ảnh hƣởng đến kế hoạch sử dụng vốn của Ngân hàng.
Ngân hàng sẽ đem để tái đầu tƣ, nhƣng khoản vay bị ứ đọng không thu đƣợc thì kế hoạch đặt ra không thực hiện đƣợc, làm cho Ngân hàng mất nguồn thu mới, ảnh hƣởng đến uy tín của Ngân hàng trong các khoản vay mới và gây khó khăn trong việc chi trả ngƣời gửi tiền. Rủi ro mất vốn Là loại RRTD khi ngƣời vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do không thanh toán. Rủi ro mất vốn là do khách hàng không trả đƣợc một phần hoặc toàn bộ nợ vay, làm cho ngân hàng: tăng chi phí do phải trích lập dự phòng rủi ro, chi phí cho việc đi thu nợ, làm cho dòng tiền của Ngân hàng bị giảm sút, đồng thời doanh thu của Ngân hàng chậm lại hoặc mất.
Nếu bị mất gốc thì quy mô của Ngân hàng sẽ bị giảm, nếu bị mất lãi thì khả năng sinh lời sẽ giảm. Nguyên nhân rủi ro tín dụng Có bốn nguyên nhân cơ bản gây nên RRTD. Đó là, nguyên nhân khách quan từ môi trƣờng bên ngoài, nguyên nhân từ phía khách hàng, nguyên nhân từ chính ngân hàng tạo nên và nguyên nhân từ phía bảo đảm tín dụng. Nguyên nhân khách quan từ môi trƣờng bên ngoài Rủi ro do các nguyên nhân bất khả kháng thuộc về thiên nhiên như: thiên tai dịch họa, lũ lụt hạn hán, chiến tranh.… gây ra các biến động xấu ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, làm gia tăng khối lƣợng các khoản nợ quá hạn.
Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định: Bao gồm các yếu tố: các giai đoạn của chu kỳ kinh tế (phát triển, hƣng thịnh hay suy thoái), sự thay đổi cơ chế chính sách kinh tế, lãi suất, tỷ giá, CPI.… Trong thời kỳ nền kinh tế phát triển mạnh, hoạt động kinh doanh thuận lợi vì thế dẫn đến việc rủi ro vỡ nợ và rủi ro không trả đƣợc nợ thấp hơn do đó hoạt động tín dụng là tƣơng đối an toàn. 12 Trong điều kiện nền kinh tế suy thoái, sản xuất bị đình trệ và ứ đọng vốn dẫn đến khả năng tài chính của khách hàng gặp nhiều khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng kém sẽ dẫn đến các khoản tín dụng gặp rủi ro gia tăng. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển quá nóng, Ngân hàng nhà nƣớc sẽ áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất thị trƣờng tăng, doanh nghiệp sẽ phải đi vay với lãi suất cao hơn dẫn đến chi phí tài chính tăng. Trong khi đó thì doanh thu của doanh nghiệp giảm một cách rõ rệt, vì vậy RRTD sẽ gia tăng.
Môi trường chính trị, pháp luật Khi một quốc gia có nền chính trị không ổn định, luôn xảy ra các cuộc chiến tranh, bạo loạn, đình công, tranh chấp giữa các đảng phái.… thì việc kinh doanh trong giai đoạn đầu tƣ của các doanh nghiệp chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn và cũng sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến các ngân hàng trong hoạt động tín dụng. Ngoài ra, trong những trƣờng hợp có sự thay đổi về chính trị, điều chỉnh chính sách, chế độ, luật pháp của Nhà nƣớc hoặc thay đổi địa giới hành chính của các địa phƣơng, sự sát nhập hay tách ra của các cơ quan, bộ ngành trong nền kinh tế. Những sự thay đổi và điều chỉnh đó là tất yếu trong quá trình phát triển của một đất nƣớc. Nhƣng nó là nguyên nhân gây rủi ro trong kinh doanh tín dụng của Ngân hàng, vì liên quan đến các đối tƣợng vay bị thay đổi.
Môi trường quốc tế: Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, tín dụng trong nƣớc có mối quan hệ chặt chẽ với tín dụng nƣớc ngoài, vì các dòng vốn luôn vận hành theo quy luật thị trƣờng. Khi cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra làm cho mối quan hệ thƣơng mại quốc tế giữa Việt Nam và các nƣớc bị thay đổi, cắt đứt hoặc tạm ngƣng trệ, làm giảm sút sức mua hàng hóa, dẫn đến việc hàng hóa tiêu thụ sẽ bị ứ đọng và ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn Ngân hàng. Tất yếu ảnh hƣởng đến RRTD. Ngoài ra, rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế: quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho việc bất cân xứng gia tăng, nợ xấu gia tăng khi tạo ra môi trƣờng cạnh tranh gay gắt, khiến cho các doanh nghiệp, những khách hàng thƣờng xuyên của Ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trƣờng.
Bên cạnh đó, bản 13 thân sự cạnh tranh của các NHTM trong nƣớc với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nƣớc ngoài thu hút. Nguyên nhân từ phía khách hàng vay Đối với khách hàng là cá nhân: Nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập của cá nhân. Các khách hàng là cá nhân thƣờng có những rủi ro vì nguyên nhân sau: - Có thu nhập không ổn định. - Rủi ro đạo đức nhƣ: sử dụng vốn sai mục đích, không muốn hoàn trả nợ vay.
Đặc biệt là dùng khoản vay ngân hàng để cho vay với lãi suất cao hơn. - Do công việc bị thay đổi hoặc bị mất việc làm. - Không có nơi cứ trú ổn định. Đối với khách hàng là doanh nghiệp, nguyên nhân gây ra RRTD bao gồm: - Về phía thị trƣờng của doanh nghiệp: + Thị trƣờng cung cấp đầu vào bị thu hẹp, giá cả nguyên vật liệu tăng cao, chi phí sản xuất tăng lên, sản phẩm giảm sức cạnh tranh.
+ Sản phẩm kém phẩm chất, không phù hợp với thị trƣờng, khó tiêu thụ. Nguyên nhân khác nhƣ: cạnh tranh, thị hiếu thay đổi, thị trƣờng bị thu hẹp. Tất cả các nguyên nhân trên, làm doanh thu của doanh nghiệp giảm sút. - Khách hàng sử dụng sai mục đích, do đó mất vốn hoặc hiệu quả đầu tƣ thấp không trả đƣợc nợ dẫn đến nợ quá hạn.
- Trình độ của cán bộ quản lý thiếu năng lực và thiếu trình độ chuyên môn trong kinh doanh hay không có kinh nghiệm làm cho việc tổ chức và việc điều hành yếu kém, hiệu quả sử dụng vốn giảm, khả năng trả nợ giảm. - Do sự thay đổi nhân sự hoặc thay đổi sở hữu doanh nghiệp: khi có sự thay đổi về đội ngũ chủ chốt trong doanh nghiệp làm cho bộ máy doanh nghiệp trở nên kém đồng bộ, hiệu quả sản xuất không cao, giảm số lƣợng sản phẩm sản xuất ra hoặc chất lƣợng sản phẩm giảm. Lúc đó doanh nghiệp sẽ không thu đƣợc lợi nhuận dự kiến hoặc bị thua lỗ. - Do tình trạng tham nhũng diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp.
14 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng Nguyên nhân rủi ro từ phía Ngân hàng là rất quan trọng, và chủ động vì Ngân hàng là chủ thể của các hoạt động tín dụng.