chương 1 là giới thiệu về tính cấp thiết của đề tài; Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu; Y nghĩa nghiên cứu; cấu trúc của nghiên cứu. Đây là cơ sở để tác giả thực hiện nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÁC YỂU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGẲN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về tín dụng tại ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm tín dụng Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), tín dụng vốn là quan hệ vay mượn được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật trên nguyên tắc người đi vay hoặc tổ chức đi vay phải hoàn trả cho người hoặc tổ chức cho vay cả nợ gốc lẫn lãi sau một khoản thời gian nhất định theo thỏa thuận. Hoạt động tín dụng có thể chia làm nhiều hình thức khác nhau căn cứ vào các tiêu chuẩn khác nhau, trong đó nếu căn cứ đối tượng đi vay thì có thể phân chia thành tín dụng cá nhân và tín dụng doanh nghiệp.
Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam (Luật TCTD, 2020), cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sửdụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàngvà các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Theo Trần Khánh Dương (2019), TDNH thương mại là các quan hệ vay mượn vốn tiền tệ phát sinh giữa các ngân hàng thương mại với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời hạn nhất định. Như vậy, từ những quan điểm trên thì TDNH là giao dịch tài sản giữa ngân hàng (tổ chức tín dụng) với bên đi vay (là các tổ chức kinh té, cá nhân trong nền kinh tế), trong đó ngân hàng (tổ chức tín dụng) chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng (tổ chức tín dụng) khi đến hạn thanh toán.2 Các đặc trưng cơ bản của tín dụng ngần hàng Bùi Diệu Anh và cộng sự (2011) đưa ra những đặc trưng của tín dụng ngân hàng (TDNH) gồm: Tài sản giao dịch trong quan hệ TDNH đa dạng, có thể dưới dạng tiền tệ, tài sản hoặc chữ ký. Rủi ro trong TDNH có tính tất yếu, không thể loại trừ hoàn toàn.
RRTD sẽ xảy ra khi một trong hai yếu tố khả năng trả nợ và/hoặc thiện chí trả nợ không được hình thành đầy đủ. Trong đó thiện chí trả nợ là yếu tố vô hình, do vậy RRTD là yếu tố xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng, ngân hàng không thể triệt tiêu, loạibỏ hoàn toàn được RRTD. Sự hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và TDNH nói riêng. Phần lãi là giá phải trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi.
Để thực hiện được nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách khác phải xác định lãi suất dương. Để hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi phải cân nhắc hai yếu tố căn bản sau đây: (i) xác định thời hạn và kỳ hạn tín dụng phải hợp lý, (ii) chính sách lãi suất tín dụng cần phải đảm bảo một cách hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng và được nền kinh tế chấp nhận. Sự hoàn trả trong TDNH là vô điều kiện. Các chứng từ được hình thành trong quan hệ TDNH như hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, khế ước nhận nợ.đều thể hiện trên đó nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi khoản nợ đến hạn.
Đây chính là những ràng buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ trong quá trình sử dụng tín dụng của ngân hàng.3 Phân loại tín dụng ngân hàng Theo Nguyễn Minh Kiều (2007) TDNH được thực hiện dưới nhiều hình thức, được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau theo các tiêu chí phân loại khác nhau: Căn cứ thời hạn cấp tín dụng 8 - Tín dụng ngắn hạn: Bao gồm những khoản tín dụng có thời hạn trong vòng 12 tháng trở xuống và được sử dụng để tài trợ vốn lưu động thiếu hụt theo thời vụ cho các doanh nghiệp, những khoản vay tiêu dùng có thời hạn ngắn. Khách hàng vay đa dạng nhiều tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế xã hội. - Tín dụng trung hạn: Bao gồm những khoản tín dụng có thời hạn sử dung tín dụng trên 1 năm cho đến 5 năm, được sử dụng chủ yếu để tài trợ cho tài sản cố định, ví dụ mua sắm cải tạo sửa chữa nhà ở, mua máy móc dây chuyền công nghệ trong các doanh nghiệp, bổ sung vốn lưu động thường xuyên. - Tín dụng dài hạn: Bao gồm những khoản tín dụng có thời hạn sử dụng tín dụng từ 5 năm trở lên.
Những dự án đầu tư qui mô lớn của doanh nghiệp, các khoản vay mua nhà của cá nhân. thuộc dạng này. Căn cứ mục đích sử dụng tín dụng - Tín dụng cho sản xuất kinh doanh: Bao gồm tất cả các khoản tín dụng tài trợ cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Chủ thể cho vay có thể là doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các hộ kinh tế cá thể.vói nhiều mục đích đa dạng, chẳng hạn bổ sung vốn lưu động theo thời vụ, vay đầu tư cải tạo, xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị.
- Tín dụng tiêu dùng: Đáp ứng cho các nhu cầu mua sắm nhà cửa, xe cộ, chi tiêu, sinh hoạt cá nhân/hộ gia đình. - Tín dụng đối vói các tổ chức tài chính khác: Tín dụng cho sản xuất kinh doanh và tín dụng tiêu dùng thường được cung cấp trực tiếp cho người có nhu cầu - ‘bán lẻ”, những tín dụng đối với các tổ chức tài chính khác được xem là những khoản tín dụng được cung cấp dưới dạng “bán sỉ/buôn Căn cứ theo xuất xứ/nguồn gốc của khoản tín dụng: - Tín dụng trực tiếp: Bao gồm những khỏan tín dụng được hình thành trực tiếp trong quan hệ giữa ngân hàng và người vay. - Tín dụng gián tiếp: Gồm những khoản tín dụng được ngân hàng thực hiện trên co sở mua lại các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán trên các phiếu bán hàng, thưong phiếu. từ người sở hữu chúng, bao gồm chiết khấu, bao thanh toán, tài trợ bán trả góp.
9 Căn cứ tỉnh chất đảm bảo/mức độ tín nhiệm của người vay: - Tín dụng có đảm bảo: Là tín dụng dựa trên cơ sở của các biện pháp bảo đảm được pháp luật quy định trong bộ luật dân sự như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh. Hầu hết các khách hàng mới, ít quan hệ đều phải áp dụng bảo đảm mới được ngân hàng cấp tín dụng, nhằm hình thành nguồn trả nợ bổ sung trong trường hợp nguồn trả nợ đầu tiên không thực hiện được. - Tín dụng không có đảm bảo: Là tín dụng chỉ dựa trên uy tín của chính người nhận tín dụng mà không cần các biện pháp bảo đảm tiền vay đi kèm. Thường áp dụng đối với khách hàng truyền thống, tín nhiệm cao, phương án vay có hiệu quả kinh tế, dòng tiền trả nợ rõ ràng, chắc chắn, ngoài ra còn phải cam kết thực hiện bảo đảm bằng tài sản khi tổ chức tín dụng yêu cầu thì mới được ngân hàng chấp nhận cấp tín dụng không có bảo đảm.
Căn cứ theo hình thức cấp tín dụng: - Cho vay: Là hình thức cấp tín dụng, trong đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoản thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. - Chiết khấu: Là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. - Bảo lãnh ngân hàng: Là hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng theo thỏa thuận- Bao thanh toán: Là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng. Việc phân loại TDNH theo một số tiêu thức như trên chỉ có ý nghĩa tương đối trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết. Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của 10 vốn tín dụng trong từng loại hình cấp tín dụng và là co sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng.2 Tổng quan về rủi ro tín dụng tại ngân hàng thưong mại 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụngcủa ngần hàng thương mại Có nhiều khái niệm khác nhau về RRTD: Theo Koch (1995) RRTD là sự rủi ro tiềm ẩn của thu nhập thuần và trị giá của vốn tín dụng xuất phát từviệc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. Theo Fitch (1997) RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạtđộng cho vay của ngân hàng.
Theo Basel (2002), RRTD là khả năng mà người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng thất bại trong việc thực hiện theo các điều khoản trả nợ đã thỏa thuận. RRTD còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không chắc chắn liênquan đến việc không hoàn trả các khoản nợ từ phía khách hàng cho ngân hàng. Tại Việt Nam, theo thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. RRTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khác hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.