Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về tái cơ cấu nông nghiệp Tái cơ cấu nông nghiệp là quá trình thay đổi hệ thống nông nghiệp theo hướng hiện đại, khai thác lợi thế so sánh của mỗi vùng để sản xuất hàng hóa nông sản nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Hệ thống nông nghiệp ở đây bao gồm từ chủ thể sản xuất, hình thức tổ chức, phương thức quản lý, cách phân phối và tiêu thụ sản phẩm [Võ Xuân Tiến, 2015].Từ khái niệm đó, nội hàm của tái cơ cấu nông nghiệp phải chú ý đến vấn đề sau: Một là, xác định lại vai trò của các chủ thể trong sản xuất nông nghiệp. Cụ thể ở đây xem xét lại vai trò của khu vực, bộ phận trong nền nông nghiệp. Đánh giá và coi trọng đúng mức vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển sản xuất để từ đó thu hút mạnh hơn vào phát triển nông nghiệp.Phát triển các hình thức đối tác công tư (PPP) trong xây dựng, quản lý, vận hàng các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hai là, sắp xếp và lựa chọn các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp, phát triển mô hình kinh tế trang trại, thúc đẩy kinh tế hợp tác phát triển.
Trước mắt cần xem xét đổi mới các công ty nông nghiệp, thủy nông theo hướng tách bạch hoạt động kinh doanh với hoạt động công ích nhằm hình thành cơ chế quản lý công ty phù hợp. Ba là, thúc đẩy quá trình chuyển dịch các nguồn lực theo hướng tích tụ tăng quy mô sản xuất. Trước mắt cần đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất, cánh đồng mẫu lớn. Cần tái cơ cấu đầu tư công để có nền nông nghiệp phát triển phù hợp với thị trường.
Đổi mới phương thức hỗ trợ nông dân theo hướng giúp họ nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua đa dạng hóa cây trồng để thích ứng với thị trường quốc tế. Trên cơ sở tập trung nguồn lực, 6 cần thay đổi tập quán canh tác truyền thống sang phương thức sản xuất hàng hóa tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đồng đều, giảm thất thoát sau thu hoạch cũng như trong bảo quản, tiêu thụ từ đó giúp nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Bốn là, hoàn thiện quy hoạch vùng sản xuất và vùng chế biến sâu nông sản. Gắn sản xuất với chế biến và thị trường tiêu thụ.
Trước hết, cần rà soát lạo cơ cấu cây trồng vật nuôi trên từng vùng sản xuất đã hình thành theo quy hoạch, đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tiếp tục quy hoạch lại quỹ đất nông nghiệp cả nước và từng vùng hướng tới phát triển sản xuất hàng hóa lớn, tập trung theo từng sản phẩm chủ lực gắn với chuỗi giá trị nội địa và toàn cầu. Năm là, gắn kết người sản xuất và tiêu dùng trogn chuỗi giá trị nông sản. Hoàn thiện và đưa ra các chính sách thúc đẩy nông dân liên kết với các doanh nghiệp chế biến, các tổ chức thu mua và tiêu thụ trên từng vùng sản xuất, hình thành chuỗi giá trị sản xuất - chế biến - phân phối - tiêu thụ sản phẩm.
Đưa ra các giải pháp phát triển các hình thức liên kết theo hướng cùng có lợi, muốn vậy cần thay đổi thể chế trong nông nghiệp. Sáu là, đưa ra các chính sách khuyến khích sản xuất, thu hút nguồn lực đầu tư vào nông nghiệp. Đặc biệt chú ý các chính sách khuyến khích khoa học công nghệ phát triển, bởi tái cơ cấu nông nghiệp không thể tách rời tiến bộ khoa học và công nghệ. [Võ Xuân Tiến, 2015] Những hướng tái cơ cấu nông nghiệp: Ngành trồng trọt: Ưu tiên cao hơn cho nhóm cây rau và hoa; tiếp tục khai thác khả năng tăng giá trị gia tăng trong trồng trọt theo hướng đổi mới trong khâu giống, thâm canh, ứng dụng công nghệ cao, thực hành GAP nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm; chú trọng nâng cao giá trị gia tăng trong khâu sau thu hoạch và chế biến.
Ngành chăn nuôi: Tái cơ cấu đàn vật nuôi theo hướng tăng tỷ trọng gia cầm, bò sữa; chuyển dịch mạnh chăn nuôi nhỏ lẻ sang trang trại, gia trại theo kiểu công nghiệp và công nghệ cao đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, 7 phòng chống dịch bệnh và bảo vệ môi trường; chuyển dịch dần chăn nuôi từ đồng bằng lên vùng trung du, miền núi, hình thành các vùng chăn nuôi tập trung xa thành phố, khu dân cư. Ngành thủy sản: Ưu tiên phát triển tôm, cá tra và nhuyễn thể; tập trung phát triển nuôi trồng theo hướng công nghiệp, thâm canh, tăng hiệu quả, đảm bảo vệ sinh an toàn và duy trì cân bằng sinh thái môi trường; ưu tiên cao cho việc đầu tư phát triển nuôi trồng ở vùng ĐBSCL, vùng ven biển. Ngành lâm nghiệp: Ưu tiên phát triển rừng kinh tế; rừng phòng hộ lưu vực xung yếu, rừng ngập mặn ven biển, rừng biên giới. Phát triển công nghiệp chế biến và ngành nghề nông thôn: Khuyến khích các ngành công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng các sản phẩm nông nghiệp; phát triển ngành nghề nông thôn, gắn hoạt động kinh tế của các làng nghề với hoạt động dịch vụ du lịch và bảo tồn phát triển văn hóa truyền thống.
Khái niệm về cung cầu tín dụng Khái niệm về cung: Cung về một loại hàng hoá cho ta biết số lượng hàng hoá mà người sản xuất sẵn sàng cung ứng và bán ra tương ứng với các mức giá khác nhau. Ở mỗi mức giá nhất định của hàng hoá mà ta đang xem xét, người sản xuất sẵn lòng cung cấp một khối lượng hàng hoá nhất định. Khái niệm về cầu: Cầu về một loại hàng hoá biểu thị những khối lượng hàng hoá mà người tiêu dùng mong muốn và sẵn sàng mua tương ứng với các mức giá xác định. Nói cách khác, một quan hệ cầu cụ thể về một loại hàng hoá được xem xét trong điều kiện các yếu tố khác được coi là đã biết và được giữ nguyên, không thay đổi.
Kết nối cung cầu: Mối quan hệ cung - cầu là mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa người bán với người mua hay giữa những người sản xuất với những người tiêu dùng diễn ra trên thị trường để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ. Khái niệm cung tín dụng: là việc một bên (bên cho vay) cung cấp 8 nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Khái niệm cầu tín dụng: là việc mà bên muốn vay tài chính của bên cho vay với lãi suất phù hợp và trả cả gốc cả lãi cho người cho vay. Kết nối cung cầu tín dụng là mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay nhằm xác định mối quan hệ qua quy mô vốn vay, mức lãi suất, thời gian, tài sản cam kết của cả hai bên.
Lý luận về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm Tín dụng là một phạm trù kinh tế, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Tín dụng ra đời là một tất yếu, khách quan của nền kinh tế xã hội. Mặc dù hoạt động tín dụng ra đời rất lâu nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa thống nhất khi định nghĩa về tín dụng.
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh tế, tín dụng được coi là quan hệ lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay với điều kiện có hoàn trả cả gốc lẫn lãi sau một thời gian nhất định. Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng (chuyển nhượng) một khối lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với những ràng buộc nhất định về: số tiền hoàn trả (gốc và lãi), thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi… Còn “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định“ [Nguyễn Thị Nhung, 2014]. Khác với tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng không cung cấp tín dụng dưới hình thức hàng hoá. Theo Luật các tổ chức tín dụng đã được bổ sung, sữa đổi năm 2004 quy định cụ thể về hoạt động tín dụng và cấp tín dụng của TCTD như sau: “Hoạt 9 động tín dụng là việc TCTD sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng.
Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác“. [Luật TCTD, 2010] Như vậy, tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Trong quan hệ này, bên cho vay (ngân hàng) chỉ nhượng lại quyền sử dụng vốn cho bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp) trong một thời gian nhất định và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho bên cho vay vô điều kiện khi đến hạn đã thỏa thuận.tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các ngân hàng, các TCTD với các pháp nhân và cá nhân, được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi. Chức năng và vai trò của tín dụng 1.
Chức năng * Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ. Tín dụng được xem như chiếc cầu nối giữa các nguồn cung - cầu về vốn tiền tệ trong nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng, các quá trình tập trung và phân phối vốn mới được thực hiện, trực tiếp điều phối các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội (vốn nhàn rỗi của cá nhân hoặc tổ chức) đến bổ sung kịp thời cho những đối tượng có nhu cầu là các cá nhân, doanh nghiệp nhằm phục vụ chủ yếu cho hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa và dịch vụ hay nhu cầu đầu tư, tiêu dùng trong nền kinh tế. [Luật TCTD, 2010] * Chức năng thúc đẩy lưu thông hàng hóa và phát triển sản xuất.