CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường 1.Khái niệm về ngân hàng thương mại Nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác nhằm tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế, đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức cá nhân Theo điều 20 luật các TCTD của Việt Nam có đưa ra các khái niệm sau: “ Tổ chức tín dụng là một doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.” “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt dộng ngân hàng và các hoạt dộng kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm có Ngân hàng Thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.Chức năng của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại có các chức năng cơ bản sau: Thứ nhất: Chức năng trung gian tín dụng - Thông qua hoạt động “đi vay để cho vay” một mặt NHTM huy động các khoản tiền nhàn rỗi từ các chủ thể trong xã hội, mặt khác dùng nguồn vốn huy động được để cho vay lại với các chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn. Thứ hai: Chức năng trung gian thanh toán - dựa trên những khoản tiền gửi của khách hàng, NHTM thực hiện thanh toán cho khách hàng bằng cách chuyển tiền của người phải trả cho người được hưởng. Qua chức năng này, NHTM tạo điều mở rộng mối quan hệ với khách hàng, hỗ trợ huy động tiền gửi và cho vay, góp phần giám sát kỷ luật tài chính.
SV: Trần Thị Hồng Hạnh 3 Lớp: K43/15.03 Luan van Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Thứ ba: Chức năng tạo tiền - cơ chế tạo tiền được hình thành từ những hoạt động của NHTM. Với lượng tiền cơ bản của NHTW, NHTM sử dụng để cho vay và sau đó một phần khoản tiền này lại được quay lại NHTM khi người sử dụng gửi tiền vào NHTM. Quá trình huy động tiền gửi và cho vay này diễn ra liên tục cho đến khi toàn bộ số tiền mà NHTW cung ứng ban đầu được quay trở về hết dưới dạng tiền gửi dự trữ bắt buộc.Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường Bất cứ một NHTM nào cũng hoạt động với mục đích chung là vì lợi nhuận và vì sự tăng trưởng không ngừng của nguồn vốn. Đây là yếu tố không thể thiếu được để tiến hành và phát triển các hoạt động kinh doanh.
Do đó, NHTM có vai trò vô cùng quan trọng: - NHTM giúp các doanh nghiệp có đủ vốn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh. - NHTM góp phần phân bổ hợp lý các nguồn lực, tạo điều kiện phát triển cân đối nền kinh tế. - NHTM tạo môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW. - NHTM là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia.Vốn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 1.Khái niệm về vốn NHTM là một trung gian tài chính, ở mỗi nước khác nhau các trung gian tài chính lại được phân chia khác nhau.
Tuy nhiên, luôn tồn tại một điểm chung là vai trò chủ đạo của các ngân hàng thương mại đóng góp khối lượng tài sản và tầm quan trọng đối với nền kinh tế. Để có được vị trí đó NHTM phải đặt yếu tố lợi nhuận lên hàng đầu và công cụ duy nhất mà các NHTM phải có trước tiên là vốn. Vốn của các NHTM là toàn bộ các giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động và tạo lập để đầu tư cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nói cách khác, nguồn vốn của các NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng mà khách hàng gửi vào Ngân hàng với các mục đích khác nhau.Kết cấu vốn của NHTM SV: Trần Thị Hồng Hạnh 4 Lớp: K43/15.03 Luan van Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính NHTM kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ dưới hình thức huy động vốn, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác.
Như vậy toàn bộ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng đều dựa trên nguồn vốn mà ngân hàng đó có. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại bao gồm những loại sau: 1. Vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu của NHTM là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng tạo lập được và thuộc sở hữu của ngân hàng.
Nguồn vốn này bao gồm: Thứ nhất: Vốn điều lệ. Vốn điều lệ là nguồn vốn mà NHTM phải có để bắt đầu hoạt động kinh doanh ngân hàng và được đưa vào trong điều lệ hoạt động của ngân hàng. Vốn điều lệ của ngân hàng nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô hoạt động kinh doanh và mức góp vốn của các chủ sở hữu ngân hàng song không được thấp hơn mức vốn pháp định. Tuy nguồn vốn này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng nhưng nó có ý nghĩa quan trọng - là căn cứ pháp lý để thành lập ngân hàng, là chỉ tiêu quan trọng phản ánh quy mô, năng lực hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Thứ hai: Các quỹ dự trữ. Các quỹ của NHTM được hình thành từ lợi nhuận ròng của ngân hàng và được trích lập hàng năm và được sử dụng vào các mục đích nhất định. Các quỹ của NHTM gồm: - Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ - Quỹ đầu tư phát triển - Quỹ dự phòng tài chính. - Quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi.
Thứ ba: Tài sản nợ khác Nguồn vốn chủ sở hữu của NHTM được gia tăng hàng năm theo nhũng phương thức khác nhau và tuỳ từng điều kiện cụ thể. Một số tài sản nợ được coi như vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm: - Lợi nhuận chưa chia hết. - Chênh lệch thu chi. SV: Trần Thị Hồng Hạnh 5 Lớp: K43/15.03 Luan van Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính - Hao mòn tài sản cố định - Tăng giá vàng, ngoại tệ chờ sử lý.
Vốn chủ sở hữu của NHTM mang tính chất ổn định và chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Song nguồn vốn này là căn cứ pháp lý để tính toán các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh, quy mô vốn chủ sở hữu quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng.2 Vốn huy động Vốn huy động là giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các TCKT và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và dược dùng làm vốn kinh doanh. a, Vốn tiền gửi Tiền gửi là nguồn vốn vay mượn chính, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản nợ của NHTM. Thực chất nguồn này thuộc các chủ sở hữu khác nhau và ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu, phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng gửi tiền có nhu cầu rút vốn.
Tiền gửi của NHTM bao gồm: * Tiền gửi của các TCKT Khi các TCKT có một khoản tiền nhàn rỗi chưa cần đến trong hoạt động kinh doanh thì họ có nhu cầu gửi tại các NHTM. Thông thường đây là các khoản tiền tạm thời chưa được sử dụng hoặc được sử dụng vào mục tiêu định sẵn vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Các TCKT thường gửi tiền vào ngân hàng dưới 2 hình thức: • Tiền gửi không kỳ hạn • Tiền gửi có kỳ hạn. * Tiền gửi của dân cư.
Tiền gửi của dân cư là một bộ phận thu nhập của người dân gửi tại ngân hàng. Khi tiêu dùng không hết thu nhập, người dân dùng để tích luỹ, khi thu nhập càng cao thì nhu cầu tích luỹ càng lớn và một trong những cách tích luỹ có lợi nhất là gửi vào ngân hàng. Vì thế đại bộ phận tiền gửi của dân cư ở ngân hàng là dành cho tích luỹ. Tiền gửi dân cư bao gồm: SV: Trần Thị Hồng Hạnh 6 Lớp: K43/15.03 Luan van Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính • Tiền gửi tiết kiệm.
• Tiền gửi thanh toán. * Tiền gửi khác. Ngoài hai loại tiền gửi trên, các NHTM còn có các loại tiền gửi khác: Tiền gửi vốn chuyên dùng. Tiền gửi của các TCTD khác.
Tiền gửi của Kho bạc nhà nước. b, Vốn huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá. Các NHTM không chỉ sử dụng các công cụ truyền thống để huy động vốn mà còn đưa ra các các công cụ mới có hiệu quả hơn để huy động vốn một cách dễ dàng đáp ứng nhu cầu vốn của mình đó là kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng. Kỳ phiếu và trái phiếu là giấy tờ có giá xác nhận khoản nợ của ngân hàng với người nắm giữ.
Kỳ phiếu được phát hành thường xuyên và có kỳ hạn ngắn: 3, 6. Trái phiếu thường có kỳ hạn lớn hơn 1 năm. Việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu có ưu thế: giúp ngân hàng huy động được đúng số lượng vốn cần thiết và có thời hạn đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Tuy nhiên chi phí của nguồn vốn này tương đối cao do ngân hàng phải trả lãi cao hơn các hình thức huy động truyền thống.
Các NHTM có thể vay vốn từ NHTW, vay các NHTM hoặc các tổ chức khác. Các NHTM vay vốn để bổ sung vào vốn hoạt động của mình, khi ngân hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ vốn hoạt động. Nguồn vốn này bao gồm: a, Vay các TCTD khác. Trong quá trình hoạt động, các NHTM tạm thời thừa vốn và thiếu vốn.
Do đó giữa các NHTM nảy sinh vay mượn lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng tạm thời dư thừa vốn có thể cho các NHTM khác vay để kiếm lãi, ngược lại các NHTM khi thiếu hụt vốn sẽ đi vay các ngân hàng khác để đáp ứng nhu cầu chi trả cấp bách thay vì phải vay NHTW. Quá trình vay mượn này rất đơn giản, có thể thực hiện bằng cách các NHTM liên hệ trực tiếp SV: Trần Thị Hồng Hạnh 7 Lớp: K43/15.