Chương 1: Tổng quan về rủi ro hoạt động và quản trị rủi ro hoạt động tại các ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro hoạt động tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV. 5 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro hoạt động tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV. CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Rủi ro hoạt động tại các NHTM 1. Khái niệm rủi ro hoạt động Rủi ro hoạt động, hay còn được gọi là rủi ro tác nghiệp hay rủi ro vận hành, là loại rủi ro có mặt trong hầu hết tất cả các giao dịch và hoạt động của ngân hàng nhưng lại khó lường nhất. Phạm vi và thời gian xảy ra rủi ro hoạt động rất lớn, nó có thể xảy ra bất kỳ lúc nào trong thời gian hoạt động của ngân hàng. Theo Basel II (2004,[14]): “Rủi ro hoạt động được định nghĩa là rủi ro khi sự thất thoát do con người, hệ thống, quy trình nội bộ bị lỗi hoặc không phù hợp hay do các sự kiện bên ngoài.
Khái niệm này bao gồm rủi ro pháp lý nhưng không bao gồm rủi ro danh tiếng và chiến lược, mặc dù một tổn thất đáng kể về hoạt động có thể ảnh hưởng đến danh tiếng”. Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng xác định rủi ro hoạt động là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng. Theo định nghĩa của JP Morgan Chase: RRHĐ là khoản lỗ tiềm tàng phát sinh từ sự không đầy đủ hoặc lỗi trong quy trình, trong các hệ thống, nhân tố con người hoặc sự kiện bên ngoài. 6 Có rất nhiều loại rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, và RRHĐ là một trong số đó.
Sơ đồ dưới đây trình bày các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM: Sơ đồ 1. Các rủi ro chính trong hoạt động kinh doanh của NHTM (Nguồn: Tài liệu Hội thảo Risk Management 2016, TS. Cấn Văn Lực) Trong các loại hình rủi ro trên, RRHĐ ngày càng được chú ý nhiều hơn do khả năng xảy ra lớn và tác động nguy hại tới hoạt động của ngân hàng. Rủi ro này có thể xảy ra do các yếu tố bên ngoài như pháp luật, thiên tai, tội phạm, khủng bố,…Có thể xem xét mức độ xảy ra và mức độ thiệt hại của rủi ro hoạt động theo 2 khía cạnh: những hoạt động có tần suất lớn nhưng mức độ thiệt hại lại nhỏ: như các nhầm lẫn, sai sót của nhân viên… và những hoạt động có tần suất nhỏ nhưng mức độ thiệt hại lại lớn, thậm chí có thể dẫn đến phá sản ngân hàng.
Phân loại RRHĐ Theo Basel II, RRHĐ phân loại theo sự kiện rủi ro gồm các nhóm: 7 Gian lận nội bộ: Rủi ro xảy ra do các hành động cố ý gian lận, lừa đảo, biển thủ tài sản/vi phạm chính sách, vi phạm chính sách, quy định nhằm mục đích trục lợi cho cá nhân. Hành vi này xảy ra khá nhiều trong các ngân hàng với các dạng thức đa dạng, khó lường. Gian lận từ bên ngoài: Rủi ro xảy ra do khách hàng hoặc bên thứ ba cố ý gian lận, biển thủ tài sản, lừa đảo hoặc không tuân thủ quy định của pháp luật. An toàn sức khỏe và các nguyên tắc nơi lao động: Rủi ro phát sinh từ các hành động trái với luật hoặc các thỏa thuận về lao động, an toàn sức khỏe, phân biệt đối xử nơi công sở.
Khách hàng, sản phẩm và các thông lệ kinh doanh: Rủi ro phát sinh do không thực hiện nghĩa vụ đối với khách hàng, sản phẩm không phù hợp, không đáp ứng nhu cầu khách hàng. Thiệt hại về tài sản: Rủi ro phát sinh do mất mát hoặc hư hỏng tài sản vật chất vì thiên tai hoặc các nguyên nhân khác. Gián đoạn hoạt động kinh doanh: Rủi ro xảy ra do lỗi hệ thống, hệ thống bị hỏng, hoạt động kinh doanh bị gián đoạn. Vận hành và quy trình: Rủi ro xảy ra do trục trặc trong xử lý giao dịch, quản trị quy trình, phát sinh từ các mối quan hệ với các đối tác, nhà cung cấp.
Nguyên nhân của RRHĐ Có rất nhiều nguyên nhân gây ra RRHĐ nhưng các NHTM thường chia các nguyên nhân gây ra RRHĐ từ 2 nhóm: Rủi ro bên trong nội bộ ngân hàng và rủi ro từ bên ngoài: 1. Rủi ro từ bên trong nội bộ ngân hàng a) Rủi ro do cán bộ ngân hàng: - Thực hiện các nghiệp vụ, nhiệm vụ không được uỷ quyền hoặc phê duyệt vượt quá thẩm quyền cho phép. - Không tuân thủ theo quy định, quy trình nghiệp vụ của NHTM, NHNN và các văn bản pháp luật hiện hành. 8 - Không tuân thủ các quy định/quy trình của hệ thống hỗ trợ, hệ thống core, không hỗ trợ kịp thời hoặc hỗ trợ không hiệu quả, có hành động gây khó khăn cho bộ phận nghiệp vụ.
- Không chấp hành nội quy cơ quan, Hợp đồng lao động và các văn bản pháp luật đối với người lao động nơi công sở như: an toàn lao động, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng. - Có hành vi lừa đảo và/hoặc hành động phạm tội, cấu kết với đối tượng bên ngoài gây thiệt hại cho NH. b) Rủi ro do quy định, quy trình nghiệp vụ: - Có nhiều điểm bất cập, chưa hoàn chỉnh, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng gây thiệt hại cho NH. - Chưa phù hợp, gây khó khăn cho cán bộ tác nghiệp trong NH.
c) Rủi ro từ hệ thống hỗ trợ, Corebanking1: * Rủi ro từ hệ thống công nghệ thông tin, Core banking: Do dữ liệu không đầy đủ hoặc hệ thống bảo mật thông tin không an toàn. Do thiết kế hệ thống không phù hợp, gián đoạn của hệ thống (xử lý, truyền thông, thông tin) và/hoặc do các phần mềm/các chương trình hỗ trợ cài đặt trong hệ thống lỗi thời, hỏng hóc hoặc không hoạt động. * Rủi ro từ các hệ thống hỗ trợ khác: Do việc chỉ đạo, hướng dẫn và hỗ trợ chưa kịp thời, chưa hiệu quả hoặc chồng chéo gây khó khăn, ách tắc cho bộ phận nghiệp vụ. Do cơ chế, quy chế về công tác hỗ trợ chưa phù hợp, chưa đáp ứng các yêu cầu hỗ trợ cho bộ phận nghiệp vụ.
Rủi ro do các tác động bên ngoài: 1 Core banking chính là một hệ thống các phân hệ nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng như tiền gửi, tiền vay, khách hàng. Về bản chất đây là hệ thống phần mềm tích hợp các ứng dụng tin học trong quản trị thông tin, tài sản, giao dịch, quản trị rủi ro … trong hệ thống ngân hàng. 9 - Rủi ro do hành vi lừa đảo, trộm cắp và/hoặc phạm tội của các đối tượng bên ngoài NH (hành động phá hoại, đánh bom. - Rủi ro do các sự kiện bên ngoài và/hoặc do tự nhiên (động đất, bão.) gây gián đoạn/thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của NH.
- Rủi ro các văn bản, quy định của chính phủ, các ban ngành liên quan có sự thay đổi hoặc có những quy định mới làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng. Quản trị RRHĐ tại các NHTM 1. Khái niệm về quản trị RRHĐ QTRRHĐ là quá trình tổ chức tiến hành các hoạt động tác động đến RRHĐ, bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức xây dựng hệ thống các chính sách, phương pháp QTRRHĐ để thực hiện quá trình quản trị rủi ro đó là xác định, đo lường, đánh giá, quản trị, giám sát và kiểm tra kiểm soát RRHĐ nhằm bảo đảm hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro xảy ra. Mục đích cuối cùng hay mục tiêu cao nhất của quản trị rủi ro đó là tối đa hóa lợi nhuận, đảm bảo phát triển bền vững của NHTM, đảm bảo sự cân bằng giữa rủi ro có thể chấp nhận được với lợi nhuận mang lại.
Nếu NHTM quá chú trọng đến quản trị rủi ro, quá thận trọng trong hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh khác, dẫn tới thu hẹp hay không mở rộng được quy mô kinh doanh, mất thị phần trong cạnh tranh, NHTM không phát triển được. Ngược lại, nếu NHTM quá chú trọng đến lợi nhuận, đến phát triển kinh doanh mà coi nhẹ quản trị rủi ro, sẽ dẫn đến các khoản thất thoát, mất vốn ngày càng tăng, có thể dẫn NHTM đến nguy cơ thua lỗ kéo dài, thậm chí là phá sản. Quản trị RRHĐ hiệu quả không có nghĩa là rủi ro không xảy ra mà là rủi ro có thể xảy ra nhưng phải trong phạm vi đoán trước, chấp nhận được, đồng thời các ngân hàng có biện pháp phù hợp để bù đắp cho những thiệt hại đó. Hậu quả của RRHĐ và sự cần thiết quản trị RRHĐ đối với các NHTM Tác động của RRHĐ tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng và xu hướng gia tăng của RRHĐ 10 Các nhà nghiên cứu ở một số nước tiên tiến đã tính toán RRHĐ trong các ngân hàng thông thường làm mất khoảng 10% lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh.
RRHĐ không chỉ gây thiệt hại cho ngân hàng về mặt tài chính mà còn ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệu của ngân hàng. Tuỳ từng trường hợp rủi ro cụ thể mà ảnh hưởng của RRHĐ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ khác nhau, như: - Đối với hoạt động marketing và bán hàng: RRHĐ có thể đưa ngân hàng rơi vào tình trạng khi triển khai các sản phẩm mới không đảm bảo cơ sở hạ tầng phù hợp do không áp dụng đúng các thủ tục phê duyệt sản phẩm mới. - Đối với hoạt động thanh toán: Hậu quả mà ngân hàng phải gánh chịu có thể là không thanh toán được theo yêu cầu của khách hàng hoăc thanh toán nhầm đối tượng thụ hưởng, gây nên làn sóng rút tiền ồ ạt từ ngân hàng tạo ra rủi ro thanh khoản làm giảm vốn kinh doanh. - Đối với hoạt động tài chính: Hậu quả của RRHĐ có thể là việc đánh giá tài sản sai, các báo cáo lãi lỗ không hoàn chỉnh, các khoản mục kế toán không được đối chiếu.
- Đối với lĩnh vực công nghệ thông tin: Hậu quả mà ngân hàng phải gánh chịu có thể là tình trạng mất kiểm soát hệ thống hoặc hệ thống cơ sở dữ liệu ngừng hoạt động.