Tài liệu Kinh tế: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên nsnn đối

Giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên nsnn đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài c phục vụ n

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế

2015

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và nguyên tắc cơ bản về kiểm soát chi thường xuyên

Kiểm soát chi thường xuyên là một khâu quan trọng trong quản lý ngân sách nhà nước, đặc biệt đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính. Quá trình này được thực hiện thông qua Kho bạc Nhà nước (KBNN) nhằm đảm bảo rằng các khoản chi được thực hiện đúng quy định, hợp lệ và hiệu quả. Chi thường xuyên bao gồm các chi phí liên quan đến hoạt động hàng ngày của các cơ quan, tổ chức, nhân sự và duy trì hoạt động bình thường. Nguyên tắc kiểm soát chi bao gồm tính hợp pháp, hợp lệ, và tuân thủ các quy định về định mức chi. Việc kiểm soát này không chỉ đảm bảo tính trong sạch của ngân sách mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn công, góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

1.1. Khái niệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước

Chi thường xuyên là các khoản chi tiêu để duy trì hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. Bao gồm chi tiền lương, chi hoạt động, chi quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế và các chi phí hành chính khác. Đây là phần chi không tạo ra tài sản cố định mà chỉ để duy trì các hoạt động thường xuyên hàng ngày của cơ quan.

1.2. Nguyên tắc quản lý và kiểm soát chi thường xuyên

Các nguyên tắc kiểm soát chi bao gồm: tính hợp pháp, tuân thủ pháp luật; tính hợp lệ, phù hợp với quy định; tính chính xác, không sai sót; và tính hiệu quả, sử dụng hợp lý nguồn lực. Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm giám sát và kiểm soát việc thực hiện các khoản chi, đảm bảo mọi chi tiêu đều được thực hiện đúng trình tự, có cam kết đầy đủ và hợp pháp.

II. Vai trò của Kho bạc Nhà nước trong kiểm soát chi

Kho bạc Nhà nước (KBNN) đóng vai trò trung tâm trong việc kiểm soát chi thường xuyên đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Tại Kho bạc Hai Bà Trưng, Hà Nội, công tác kiểm soát chi được thực hiện một cách hệ thống và chuyên nghiệp. KBNN không chỉ là nơi lưu giữ và chi trả tiền mà còn là cơ quan giám sát trực tiếp, kiểm tra hồ sơ, cam kết chi và tuân thủ các quy định pháp luật. Thông qua các bộ phận chuyên môn, KBNN thực hiện kiểm soát từ khâu tiếp nhận hồ sơ, xác minh tính hợp pháp, đến khâu chi trả. Vai trò này giúp ngăn chặn các chi tiêu sai quy định, lạm dụng ngân sách, và đảm bảo rằng quỹ công được sử dụng hiệu quả cho mục đích dự kiến.

2.1. Chức năng và trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước

KBNN có trách nhiệm quản lý tài khoản, kiểm soát cam kết chi, xác minh hợp pháp của các giấy tờ, kiểm tra định mức chi, và thực hiện chi trả. Tại mỗi bước, KBNN phải đảm bảo rằng các khoản chi phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và được phê duyệt đúng thẩm quyền.

2.2. Quy trình kiểm soát chi tại Kho bạc Hai Bà Trưng

Quy trình kiểm soát bao gồm: tiếp nhận hồ sơ thanh toán, xác minh cam kết chi, kiểm tra căn cứ pháp lý, đối chiếu định mức chi, xác minh chữ ký và con dấu, cuối cùng là thực hiện chi trả. Mỗi giai đoạn đều có cơ chế kiểm tra nội bộ để đảm bảo không có sai sót hoặc gian lận.

III. Thực trạng và những vướng mắc hiện tại

Mặc dù đã có những kết quả tích cực trong công tác kiểm soát chi tại Kbo bạc Hai Bà Trưng giai đoạn 2012-2014, nhưng vẫn tồn tại một số vướng mắc cần giải quyết. Những vấn đề chính bao gồm: các quy định về chi thường xuyên chưa đồng bộ giữa các cấp, khiến việc áp dụng định mức gặp khó khăn; hệ thống quản lý thông tin còn chậm, không tự động hóa đầy đủ; đội ngũ cán bộ tại KBNN chưa được đào tạo bồi dưỡng thường xuyên; và các đơn vị sự nghiệp công lập chưa nắm rõ quy trình nộp hồ sơ, dẫn đến tình trạng hồ sơ sai sót phải chỉnh sửa nhiều lần.

3.1. Những kết quả đạt được trong kiểm soát chi

Trong giai đoạn 2012-2014, KBNN Hai Bà Trưng đã thực hiện kiểm soát và chi trả hàng trăm tỷ đồng cho các đơn vị sự nghiệp công lập, đảm bảo 100% hồ sơ thanh toán được kiểm soát trước khi chi trả. Tỷ lệ hồ sơ bị từ chối do không đủ điều kiện rất thấp, chứng tỏ chất lượng hồ sơ được nâng cao.

3.2. Những hạn chế cần khắc phục

Các hạn chế chính bao gồm: quy trình kiểm soát chi còn thủ công, mất nhiều thời gian; định mức chi chưa cập nhật theo tình hình kinh tế xã hội; sự phối hợp giữa KBNN và các đơn vị sự nghiệp công lập chưa chặt chẽ; và công nghệ thông tin chưa được ứng dụng hết khả năng.

IV. Giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên giai đoạn 2015 2020

Để hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, cần thực hiện một số giải pháp toàn diện. Thứ nhất, cải thiện quy trình giao dự toán và xây dựng quy trình kiểm soát chi rõ ràng, công khai; thứ hai, đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập để tăng cường tự chủ tài chính; thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống quản lý thông tin ngân sách và kho bạc; thứ tư, tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức tại KBNN; và cuối cùng, hoàn thiện các quy định pháp luật về chi thường xuyên để đồng bộ trên toàn quốc.

4.1. Giải pháp về quy trình và dự toán chi

Cần cải tiến quy trình kiểm soát chi bằng cách: đơn giản hóa các thủ tục hành chính, rõ ràng hóa trách nhiệm của từng bộ phận, công khai các tiêu chí kiểm soát. Giao dự toán cần được thực hiện sớm hơn để các đơn vị có đủ thời gian chuẩn bị. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống quản lý cam kết chi hiệu quả.

4.2. Giải pháp công nghệ thông tin và nhân lực

Ứng dụng công nghệ thông tin để tự động hóa quy trình kiểm soát chi, giảm thời gian xử lý hồ sơ. Xây dựng hệ thống thông tin quản lý ngân sách tích hợp, cho phép truy cập trực tuyến. Đồng thời, tăng cường đào tạo cán bộ về kiểm soát chi, quy định pháp luật, và kỹ năng công nghệ thông tin.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của chu trình NSNN. Khoản chi thường xuyên khi đã được ghi vào dự toán chi và đã được cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh, đồng thời phải luôn chịu sự kiểm tra giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước. Phạm vi chi NSNN rất đa dạng thuộc nhiều các lĩnh vực khác nhau, định mức chi cho các hoạt động được xác định cho các đối tượng riêng, tùy theo quy mô, tính chất hoạt động của đơn vị. Có quản lý theo dự toán mới đảm bảo được yêu cầu cân đối của NSNN, tạo điều kiện thuận lợi cho điều hành NSNN, hạn chế được các tùy tiện trong quản lý và sử dụng kinh phí ở các đơn vị sử dụng NSNN.

Chỉ sau khi dự toán chi NSNN hàng năm đã được Quốc hội thông qua mới trở thành căn cứ chính thức để phân bổ chi thường xuyên cho các ngành các cấp. b/ Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả Tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính bởi vì nguồn lực thì có giới hạn mà nhu cầu thì không có giới hạn nào, nhu cầu chi từ nguồn NSNN luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi nguồn thu có hạn. Do vậy trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiến đó phải luôn tính toán sao cho với chi phí ít nhất nhưng đạt được hiệu quả cao nhất. c/ Nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN Một trong những chức năng quan trọng của KBNN là quản lý quỹ NSNN.

Vì vậy KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ các khoản chi NSNN, đặc biệt là chi thường xuyên. Để tăng cường vai trò của KBNN trong KSC thường xuyên của NSNN, coi việc “chi trực tiếp qua KBNN” là nguyên tắc trong quản lý chi NSNN. Định mức chi thường xuyên Định mức chi thường xuyên thực chất là chế độ chi tiêu tài chính, là căn cứ pháp lý để các đơn vị sử dụng ngân sách chấp hành khi chi tiêu, sử dụng kinh phí NSNN cấp. Định mức chi tiêu là căn cứ để cơ quan tài chính kiểm tra, giám sát quá 7 trình chấp hành ngân sách, đồng thời là căn cứ pháp lý chủ yếu để KBNN thực hiện kiểm soát chi NSNN.

Kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN 1. Nguyên tắc kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN Tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trong quá trình chi trả, thanh toán. Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền quyết định chi. Mọi khoản chi NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo niên độ ngân sách, cấp ngân sách và mục lục NSNN.

Các khoản chi NSNN bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Việc thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp từ KBNN cho người hưởng lương, trợ cấp xã hội và người cung cấp hàng hóa dịch vụ; trường hợp chưa thực hiện được việc thanh toán trực tiếp, KBNN thực hiện thanh toán qua đơn vị sử dụng NSNN. Trong quá trình kiểm soát, thanh toán, quyết toán chi NSNN các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi hoặc nộp ngân sách. Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện việc thu hồi cho NSNN theo đúng trình tự quy định.

Điều kiện chi NSNN KBNN chỉ thực hiện thanh toán các khoản chi NSNN khi có đủ các điều kiện sau: a/ Đã có trong dự toán chi NSNN được giao, trừ các trường hợp sau: - Tạm cấp kinh phí trong trường hợp vào đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, cơ quan Tài chính và KBNN tạm cấp kinh phí cho một số nhiệm vụ chi: + Chi lương và các khoản có tính chất tiền lương; + Chi nghiệp vụ phí và công vụ phí; 8 + Một số khoản chi cần thiết khác để bảo đảm hoạt động của bộ máy, trừ các khoản mua sắm trang thiết bị, sửa chữa; + Chi cho dự án chuyển tiếp thuộc các chương trình quốc gia; + Chi bổ sung cân đối cho ngân sách cấp dưới. Mức tạm cấp hàng tháng tối đa không quá mức chi bình quân 01 tháng của năm trước. - Chi từ nguồn tăng thu so với dự toán được giao theo quy định và từ nguồn dự phòng ngân sách. - Chi ứng trước dự toán NSNN năm sau theo quyết định của cấp có thẩm quyền quy định.

b/ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định. c/ Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền quyết định chi. d/ Có đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán theo quy định Ngoài ra trường hợp sử dụng kinh phí NSNN để mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác thuộc phạm vi phải đấu thầu thì phải có đầy đủ quyết định trúng thầu hoặc quyết định chỉ định đơn vị cung cấp hàng hóa của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Trách nhiệm và quyền hạn của KBNN trong việc quản lý, kiểm soát thanh toán các khoản chi NSNN Kiểm soát các hồ sơ, chứng từ chi và thực hiện thanh toán kịp thời các khoản chi ngân sách đủ điều kiện thanh toán theo quy định Tham gia với cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng ngân sách; xác nhận số thực chi, số tạm ứng, số dư kinh phí cuối năm ngân sách của các đơn vị sử dụng ngân sách tại Kho bạc Nhà nước.

KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán và thông báo bằng văn bản cho đơn vị sử dụng ngân sách biết; đồng thời, chịu trách nhiệm về quyết định của mình trong các trường hợp sau: 9 - Chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. - Không đủ các điều kiện chi theo quy định. KBNN không chịu trách nhiệm về những hồ sơ, chứng từ theo quy định không phải gửi đến KBNN để kiểm soát. KBNN có trách nhiệm tạm dừng thanh toán theo yêu cầu của cơ quan tài chính (bằng văn bản) đối với các trường hợp quy định.

Cán bộ công chức KBNN không tuân thủ thời gian quy định về kiểm soát chi đã quy định hoặc cố tình gây phiền hà đối với đơn vị sử dụng NSNN thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật. Một số vấn đề về đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính 1. Khái niệm Đơn vị SNCL là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động công lập thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân. Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực: Y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm.

Một nội dung quan trọng trong cải cách tài chính công là việc trao quyền tự chủ cho các đơn vị SNCL nhằm tạo ra sự linh hoạt nhất định cho các đơn vị trong sử dụng kinh phí để thực thi các hoạt động và cung cấp dịch vụ công nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội. Các đơn vị được quyền quyết định chi tiêu theo ưu tiên của đơn vị đối với kinh phí thường xuyên được giao tự chủ, được chi tiêu theo các định mức do đơn vị thống nhất xây dựng trong quy chế chi tiêu nội bộ, được sử dụng phần kinh phí dôi ra để tăng thu nhập cho người lao động và phát triển các điều kiện vật chất cần thiết của đơn vị để đảm bảo cung ứng dịch vụ công tốt hơn cho xã hội. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập 10 - Đơn vị SNCL là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích kiếm lời; Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường, trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường. Nhờ đó sẽ hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồ dưỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe, tinh thần của nhân dân.

- Sản phẩm của các đơn vị SNCL là sản phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần. - Hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị SNCL luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau: - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động); - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động); - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ