Chương 1 BẢO HỘ QUY N SỞ HỮU TRÍ TUỆ Đ I VỚI TRI TH C TRUY N TH NG 1. Tổng quan về tri thức truyền thống 1. Khái niệm, vai trò và đặc trưng của tri thức truyền thống 1. Khái niệm tri thức truyền thống Một cách khái quát, tri thức truyền thống (Traditional Knowledge) là toàn bộ hệ thống kiến thức mà người dân ở một cộng đồng tích luỹ và phát triển dựa trên kinh nghiệm, được kiểm nghiệm qua thực tiễn và thường xuyên thay đổi để thích nghi với các đặc điểm văn hoá và môi trường.
Tri thức truyền thống là tri thức của bất kỳ nhóm cộng đồng nào ở nông thôn, thành thị, của người định cư hay người du cư, của người bản địa hay người nhập cư, và có thể là tri thức của một bộ tộc người thiểu số. Trong nhiều tài liệu, tri thức truyền thống còn được Luận văn thạc sĩ khoa học gọi bằng những tên khác mang bản chất tương tự, như tri thức cổ truyền, kiến thức bản địa, kiến thức kỹ thuật bản địa. Trên thế giới, một số nước cũng có các quy định riêng về định nghĩa tri thức truyền thống [25, tr. Ví dụ như: - Điều 7(II) Đạo luật số 2.2001 của Brazil định nghĩa “tri thức truyền thống kết hợp (Associated Traditional Knowledge) là những thông tin hoặc kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân hoặc tập thể thuộc một cộng đồng bản địa hoặc địa phương, có giá trị thực tiễn hoặc tiềm tàng và gắn liền với tài sản nguồn gen”.
- Luật số 20 của Panama quy định “tri thức truyền thống bao gồm các sáng chế, mẫu hữu ích, các bản vẽ và các kiểu dáng, các sáng tạo trong các bức đồ hoạ, số liệu, biểu tượng, tranh ảnh minh hoạ, đá cổ được trạm khắc, và các sản phẩm khác; các yếu tố văn hoá liên quan tới lịch sử, âm nhạc, nghệ thuật và các hình thức thể hiện truyền thống”. 6 - Điều 2(b) Luật số 27811 của Peru định nghĩa “tri thức tập thể (Collective Knowledge) là các tri thức được tích luỹ, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được những nhóm người và cộng đồng bản địa phát triển, liên quan đến các tính chất, việc sử dụng và đặc tính của đa dạng sinh học”. - Điều 3(1) Luật số 118/2002 của Bồ Đào Nha định nghĩa “tri thức truyền thống là tất cả các yếu tố hữu hình gắn liền với việc sử dụng mang tính thương mại hoặc công nghiệp các nguồn lực khác nhau và các vật liệu nội sinh khác của các cộng đồng địa phương, của tập thể hoặc cá nhân, một cách không hệ thống và gắn với các truyền thống văn hoá và tinh thần của các cộng đồng này, bao gồm những không giới hạn ở các tri thức liên quan tới các phương pháp, các quy trình, các sản phẩm và các danh pháp có khả năng áp dụng trong các hoạt động nông nghiệp, thực phẩm và công nghiệp nói chung, bao gồm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, thương mại và các dịch vụ, liên quan không trực tiếp tới việc sử dụng và bảo tồn các nguồn lực khác nhau và vật liệu nội sinh và ngoại sinh khác thuộc Luận văn thạc phạm vi điều chỉnh của luật hiện hành. sĩ khoa học Khái niệm về tri thức truyền thống đã được Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) nghiên cứu từ năm 1978, mặc dù ban đầu chỉ giới hạn ở một loại tri thức truyền thống là “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian” (Expressions of Folklore).
Nhằm đưa ra thuật ngữ đầy đủ và chính xác về đối tượng này, vào năm 1982, “Các quy định mẫu dành cho luật quốc gia về bảo hộ các hình thức thể hiện văn hoá dân gian chống lại việc khai thác trái phép và những hành vi xâm hại khác” đã được WIPO phối hợp với Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) soạn thảo và ban hành. Điều 2 của Các quy định mẫu nói trên định nghĩa “các hình thức thể hiện văn hoá dân gian” là “các tác phẩm chứa những yếu tố đặc trưng của di sản nghệ thuật truyền thống được một cộng đồng hoặc các cá nhân phát triển và gìn giữ, phản ánh những nhu cầu về nghệ thuật truyền thống của cộng đồng này”. Tuy nhiên, mặc dù Các quy định mẫu này đã được ban hành, nhưng các văn bản pháp luật quốc tế về các lĩnh vực khác lại sử dụng ngày càng nhiều những thuật ngữ như “tri thức truyền thống, sáng tạo và 7 kinh nghiệm thực tiễn” [Điều 8(j) Công ước về đa dạng sinh học năm 1992], hoặc “kiến thức bản địa, văn hoá truyền thống và kinh nghiệm thực tiễn” (Dự thảo Tuyên bố của Liên hiệp quốc về quyền của người bản địa), đồng thời mở rộng phạm vi sang những lĩnh vực khác như nông nghiệp truyền thống, tri thức liên quan đến đa dạng sinh học và thuốc chữa bệnh chứ không chỉ giới hạn ở “các hình thức thể hiện văn hoá dân gian” như được nêu trong Các quy định mẫu của WIPO. Vì vậy, để thống nhất về cách dùng thuật ngữ, trong Báo cáo về các cuộc khảo sát về sở hữu trí tuệ và tri thức truyền thống (1998-1999), WIPO đã đưa ra một định nghĩa về thuật ngữ tri thức truyền thống, theo đó “tri thức truyền thống” được hiểu là “các tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học dựa trên truyền thống; sự biểu diễn; các sáng chế; các phát minh khoa học; các kiểu dáng; các nhãn hiệu, tên và biểu tượng; các thông tin bí mật; và tất cả các sáng kiến hoặc sáng tạo khác dựa trên truyền thống là thành quả của hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ Luận văn thạc sĩ khoa học thuật”.
Định nghĩa này cũng được tác giả sử dụng ở Đề tài này. Cụm từ “dựa trên truyền thống” được hiểu là “các hệ thống tri thức, các sáng tạo, sáng kiến và các hình thức thể hiện văn hoá được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thường thuộc về hoặc gắn liền với một nhóm người cụ thể hoặc vùng lãnh thổ cụ thể nơi nhóm người đó sinh sống, được phát triển thường xuyên để thích nghi với môi trường biến đổi”. Theo khái niệm này, thuật ngữ “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian”, gọi tắt là “văn hoá dân gian” (Folklore), chỉ đề cập về các khía cạnh mang tính nghệ thuật của “tri thức truyền thống”. Theo quy định tại Điều 2 Các quy định mẫu nói trên, “các hình thức thể hiện văn hoá dân gian” được hiểu là những sản phẩm chứa những yếu tố đặc trưng của di sản nghệ thuật truyền thống được một cộng đồng hoặc các cá nhân bảo tồn và phát triển, phản ánh những nhu cầu về nghệ thuật truyền thống của cộng đồng này.
Các hình thức thể hiện văn hoá dân gian này có thể dưới dạng ngôn ngữ (truyện, thơ, câu đố dân gian, các tên, các chỉ dẫn địa lý và các biểu tượng.), âm nhạc (các bài hát dân gian, âm nhạc truyền thống.), động tác (múa 8 dân gian, tiến hành nghi lễ.) hoặc các dạng thể hiện hữu hình khác (các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc, nghệ thuật tạo hình, sản phẩm thủ công mỹ nghệ.) và các tài sản văn hoá vật thể khác. Vai trò của tri thức truyền thống Mặc dù những vấn đề về bảo hộ tri thức truyền thống theo hệ thống sở hữu trí tuệ vẫn đang tiếp tục được cộng đồng quốc tế quan tâm, xem xét, nhưng hoạt động khai thác và sử dụng các tri thức truyền thống của cộng đồng nhằm phục vụ đời sống, sản xuất, nghiên cứu. vẫn luôn diễn ra và thực sự là nền tảng để phát triển tri thức hiện đại, thúc đẩy các hoạt động sáng tạo trên mọi lĩnh vực khoa học, văn học và nghệ thuật. Không những thế, tri thức truyền thống thường gắn liền với yếu tố văn hoá, tập quán, tín ngưỡng, đạo đức.
của một cộng đồng và được lưu truyền, phổ biến từ thế hệ này sang thế hệ khác, nên các tri thức truyền thống có ảnh hưởng lớn đến trình độ phát triển kinh tế, xã hội của cộng đồng có tri thức đó nói riêng và cả cộng đồng nói chung. Tri thức truyền thống được bảo Luận văn thạc sĩ khoa học tồn, phát triển sẽ là động lực thúc đẩy tính hiệu quả của mọi hoạt động trong đời sống, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu. trên cơ sở khai thác nguồn tri thức nội lực tiềm tàng sẵn có. Trên bình diện vi mô, tri thức truyền thống trước hết là nền tảng của việc tự cung, tự cấp và tự quyết của người dân, vì họ đã quen với các kỹ thuật theo truyền thống nên có thể hiểu biết, vận dụng và duy trì các kỹ thuật đó tốt hơn là áp dụng các kỹ thuật hiện đại mới được du nhập vào cộng đồng.
Nguồn tri thức đó giúp cộng đồng sử dụng nguồn tài nguyên của địa phương mà ít bị lệ thuộc vào nguồn cung cấp từ bên ngoài vừa tốn kém, hiếm hoi và không sẵn có. Hơn nữa, tri thức truyền thống còn giúp cộng đồng lựa chọn áp dụng kiến thức truyền thống hay kiến thức hiện đại, thay vì việc chỉ áp dụng kiến thức hiện đại để giải quyết một vấn đề cụ thể, cộng đồng có thể nghiên cứu lựa chọn kiến thức truyền thống hay kiến thức hiện đại hoặc cả hai loại hình kiến thức này. Xét về giá trị sử dụng, các tri thức truyền thống thường rẻ hơn các kiến thức hiện đại vì hầu hết 9 dựa trên những kinh nghiệm, kỹ năng, tư liệu sẵn có, ít phụ thuộc vào nguồn kinh phí đầu tư. Tuy nhiên, trên thực tế các tri thức truyền thống nhiều khi không được coi trọng do đặc điểm của loại tri thức này là dựa trên kinh nghiệm, được lưu truyền lại và được kiểm nghiệm trên thực tế nhưng chưa có cơ sở khoa học, có khi dựa trên niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.
với mục đích giảm thiểu rủi ro. Chỉ tri thức nào khi được khai thác mang lại hiệu quả thực sự mới được quan tâm, nghiên cứu. Vì vậy, nhiều tri thức truyền thống quý giá bị mai một dần qua nhiều thế hệ mà không được bảo tồn và phát triển tương xứng với vai trò của một kho tàng tri thức vô giá. Đặc trưng của tri thức truyền thống Tri thức truyền thống mang tính truyền thống do bối cảnh tạo ra, gìn giữ và lưu truyền các tri thức đó không thể tách rời với văn hoá và đặc tính của cộng đồng bản địa hoặc cách thức bảo tồn và lưu truyền giữa các thế hệ.
Tính “truyền Luận văn thạc sĩ khoa học thống” của tri thức được thể hiện ở chỗ việc sáng tạo và sử dụng kiến thức này là một quá trình dựa trên truyền thống văn hoá của cộng đồng.