Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, trong tổng lượng chất thải phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh, có khoảng 10% là chất thải mang tính lây nhiễm và 5% là chất thải độc hại chứa hóa chất, dược phẩm quá hạn hoặc các đồng vị phóng xạ. Tại Việt Nam, tốc độ gia tăng dân số nhanh chóng cùng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao đã đặt áp lực nặng nề lên hạ tầng bảo vệ môi trường của các cơ sở y tế. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình là bệnh viện tuyến tỉnh hạng I với quy mô 700 giường bệnh thực tế trên tổng diện tích 24 hecta, tiếp nhận hơn 275.558 lượt người bệnh điều trị nội trú mỗi năm. Đi kèm với sứ mệnh khám chữa bệnh quy mô lớn là khối lượng chất thải rắn và nước thải y tế phát sinh liên tục mỗi ngày, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và rủi ro lây lan mầm bệnh nguy hiểm ra khu dân cư xung quanh nếu không được kiểm soát chặt chẽ.

Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh chất thải rắn và nước thải y tế; phân tích năng lực tổ chức của hệ thống quản lý môi trường, mức độ đầu tư trang thiết bị; đồng thời khảo sát sự hiểu biết và thái độ thực hành quy chế quản lý của đội ngũ y bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý vệ sinh viên tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình. Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018 tại khuôn viên bệnh viện trên trục đường Tuệ Tĩnh, phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp bộ chỉ số định lượng cụ thể về suất phát thải bình quân 0,88 kg/giường/ngày và hiệu suất xử lý nước thải của hệ thống CN2000, tạo tiền đề vững chắc cho công tác hoạch định chính sách bảo vệ môi trường y tế tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết Quản lý chất thải tích hợp kết hợp với mô hình Đánh giá chu trình sống của chất thải y tế, bao quát toàn bộ quy trình từ khâu phát sinh tại nguồn, phân loại sơ bộ, thu gom nội bộ, vận chuyển đến lưu giữ trung chuyển và xử lý tiêu hủy cuối cùng. Khung lý thuyết này giúp nhận diện rõ ràng các mắt xích có nguy cơ rò rỉ hoặc phát tán tác nhân ô nhiễm.

Các khái niệm chuyên ngành nền tảng được định hình rõ nét trong nghiên cứu gồm:

  • Chất thải rắn y tế: Bao gồm chất thải lây nhiễm (vật sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, chất thải giải phẫu) và chất thải nguy hại không lây nhiễm (hóa chất phế thải, dược phẩm quá hạn, chất gây độc tế bào, thiết bị chứa kim loại nặng như thủy ngân, cadimi).
  • Suất phát thải chất thải y tế: Khối lượng chất thải phát sinh tính theo đơn vị kg/giường bệnh/ngày hoặc kg/người bệnh/ngày.
  • An toàn sinh học và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện: Hệ thống các biện pháp phòng ngừa rủi ro phơi nhiễm nghề nghiệp cho nhân viên y tế và cộng đồng lân cận.
  • Tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Hệ thống văn bản pháp quy điều chỉnh xả thải gồm Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT, QCVN 28:2010/BTNMT về nước thải y tế và QCVN 02:2012/BTNMT về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa nguồn dữ liệu thứ cấp (báo cáo quan trắc định kỳ giai đoạn 2011 - 2016 của bệnh viện, báo cáo môi trường quốc gia) và nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại hiện trường. Cỡ mẫu khảo sát xã hội học gồm 172 đối tượng, được chọn lựa theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đại diện cho các nhóm: 61 bác sĩ, 51 điều dưỡng và kỹ thuật viên, 30 hộ lý vệ sinh viên và 30 cán bộ quản lý hành chính thuộc các khối chuyên môn khác nhau. Phương pháp phân tầng này bảo đảm tính khách quan, phản ánh chính xác góc nhìn và hành vi thực tế của từng vị trí việc làm trong dây chuyền quản lý chất thải.

Các phương pháp phân tích cốt lõi bao gồm phương pháp thống kê toán học, kiểm định chéo dữ liệu bảng hỏi bằng phần mềm thống kê chuyên dụng, phương pháp cân đo khối lượng thực tế từng dòng chất thải và phương pháp quan sát trực quan bằng bảng kiểm định lượng thang điểm. Timeline thu thập số liệu và đo đạc chất lượng môi trường được thực hiện liên tục từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính này là nhằm đối chiếu sự sai lệch giữa kiến thức lý thuyết của nhân viên với hành động thực hành thực tế ngoài hiện trường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình cho thấy suất phát sinh chất thải rắn bình quân đạt 0,88 kg/giường bệnh/ngày. Trong đó, chất thải y tế nguy hại chiếm khoảng 0,14 kg/giường bệnh/ngày (chiếm 15,9% tổng lượng chất thải), phần còn lại 84,1% là chất thải sinh hoạt thông thường. Khối lượng phát thải có sự phân hóa rõ rệt giữa các khối: Khoa Hồi sức cấp cứu ghi nhận mức phát thải cao nhất với 1,27 kg/giường bệnh/ngày (chất thải nguy hại chiếm 0,31 kg/giường bệnh/ngày, cao gấp 2,2 lần mức trung bình chung), tiếp theo là Khoa Ngoại với 0,87 kg/giường bệnh/ngày và Khoa Sản đạt 0,95 kg/giường bệnh/ngày.

Phân tích thành phần lý hóa của chất thải rắn cho thấy tỷ lệ chất thải có khả năng tái chế chiếm trên 25%, hàm lượng hợp chất hữu cơ chiếm 52%, rác thải nhựa chiếm khoảng 10%. Mặc dù có tới 95,6% các khoa phòng đã triển khai phân loại rác và 91,1% sử dụng hộp kháng thủng đựng vật sắc nhọn, nhưng tỷ lệ sử dụng túi đựng đúng quy chuẩn màu sắc chỉ đạt 30,67% và đúng quy cách độ dày đạt 66,67%.

Về phương tiện vận chuyển và lưu giữ, chỉ có 53% lượng rác được chuyên chở bằng xe đẩy có nắp đậy kín chuyên dụng; 53,4% khu vực tập kết rác trung chuyển có mái che và chỉ 45,3% đạt đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật theo quy chế. Đối với hệ thống xử lý nước thải công nghệ CN2000, lưu lượng xả thải được xử lý ổn định, các chỉ số ô nhiễm chính như BOD5, COD, tổng chất rắn lơ lửng và vi khuẩn Coliforms sau xử lý đều giảm trên 85% so với nước thải thô đầu vào, cơ bản đạt tiêu chuẩn Cột B của QCVN 28:2010/BTNMT.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch trong chất lượng phân loại chất thải bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ về hạ tầng bao bì và áp lực quá tải bệnh nhân. Kết quả khảo sát nhận thức chỉ ra rằng dù 91,1% cán bộ y tế nắm được quy định chung, nhưng tỷ lệ nhận biết chính xác mã màu của từng loại túi chất thải chỉ đạt khoảng 68%. Lượng người nhà chăm sóc bệnh nhân quá đông khiến một lượng lớn rác thải sinh hoạt bị vứt lẫn vào thùng rác y tế nguy hại, làm tăng thể tích chất thải cần thiêu đốt một cách không cần thiết.

Khi so sánh với số liệu khảo sát tại 74 bệnh viện trên địa bàn thành phố Hà Nội (túi đúng màu đạt 30,67%, thùng có nắp đạt 58,33%), Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình có mức độ tuân thủ tương đương mặt bằng chung các bệnh viện tuyến tỉnh miền Bắc. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu thành phần rác thải và bảng đối chiếu các chỉ số vi sinh của nước thải trước và sau trạm xử lý CN2000. Ý nghĩa thực tiễn của phát hiện này chỉ ra rằng nếu bệnh viện tách triệt để 25% rác tái chế và kiểm soát nghiêm ngặt 15,9% rác nguy hại, chi phí vận hành xử lý môi trường hàng năm có thể tiết kiệm từ 30% đến 40%.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa toàn diện hệ thống phân loại chất thải tại nguồn bằng cách trang bị 100% thùng chứa đạt chuẩn mã màu vàng, đen, xanh, trắng và hộp kháng thủng đựng vật sắc nhọn tại tất cả các buồng tiêm, phòng mổ, phấn đấu nâng tỷ lệ phân loại chính xác lên trên 95% trước quý II năm 2019. Trách nhiệm thực hiện thuộc về Phòng Điều dưỡng và Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng lưu giữ và bổ sung trang thiết bị chuyên dụng thông qua việc đầu tư 100% xe đẩy thu gom rác có nắp đậy kín cao su, xây dựng tường bao và mái che kiên cố tại trạm trung chuyển rác nội bộ, ngăn ngừa 100% sự xâm nhập của côn trùng và động vật gặm nhấm trước quý III năm 2019 do Phòng Quản trị - Hậu cần phụ trách.

Thứ ba, bảo dưỡng định kỳ và nâng cao hiệu suất trạm xử lý nước thải y tế CN2000 bằng cách thay mới hệ thống bơm định lượng hóa chất khử trùng, định kỳ 3 tháng một lần phân tích chất lượng nước xả thải, đảm bảo 100% chỉ số vi sinh và hóa lý đạt Cột A theo QCVN 28:2010/BTNMT trong suốt lộ trình 2019 - 2020. Đầu mối triển khai là Tổ Kỹ thuật môi trường dưới sự giám sát của Ban Giám đốc bệnh viện.

Thứ tư, triển khai các khóa tập huấn chuyên sâu về an toàn vệ sinh lao động và phân định rác y tế cho 100% nhân viên y tế, vệ sinh viên hợp đồng, đồng thời phát động phong trào giảm thiểu rác thải nhựa y tế nhằm cắt giảm 20% đến 30% lượng chất thải nhựa sinh hoạt mỗi năm, do Phòng Tổ chức cán bộ phối hợp cùng Công đoàn bệnh viện tiến hành định kỳ hàng quý.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Ban Giám đốc và cán bộ quản trị tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và huyện. Luận văn cung cấp mô hình thực tiễn giúp tối ưu hóa chi phí vận hành lò đốt, quản trị trạm nước thải và thiết lập quy trình kiểm soát rủi ro sinh học chuẩn xác cho cơ sở có quy mô từ 500 đến 1000 giường bệnh.

Nhóm 2: Chuyên viên quản lý môi trường tại các Sở Y tế và Sở Tài nguyên và Môi trường. Tài liệu cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về hệ số phát thải theo từng khoa phòng chuyên biệt, hỗ trợ đắc lực cho công tác xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường và thanh tra, kiểm tra chuyên ngành.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Y tế Công cộng. Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu phân tầng, kỹ thuật thiết kế bảng hỏi và quy trình đánh giá thực chứng tác động môi trường trong y tế.

Nhóm 4: Các doanh nghiệp dịch vụ môi trường đô thị và nhà thầu công nghệ xử lý chất thải. Công trình giúp doanh nghiệp nắm bắt chính xác đặc tính cơ lý hóa của dòng thải bệnh viện để thiết kế lò đốt chất thải nguy hại và trạm xử lý nước thải sinh học phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Suất phát thải chất thải rắn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình là bao nhiêu? Theo kết quả khảo sát thực tế, suất phát thải chất thải rắn bình quân của bệnh viện đạt 0,88 kg/giường bệnh/ngày. Trong đó, chất thải y tế nguy hại phát sinh khoảng 0,14 kg/giường bệnh/ngày và chất thải sinh hoạt thông thường chiếm khoảng 0,74 kg/giường bệnh/ngày.

Khoa phòng nào có khối lượng chất thải nguy hại phát sinh cao nhất? Khoa Hồi sức cấp cứu là đơn vị có lượng phát thải lớn nhất với 1,27 kg/giường bệnh/ngày, trong đó chất thải nguy hại lên tới 0,31 kg/giường bệnh/ngày do tần suất sử dụng bông băng, dây truyền, kim tiêm và các thủ thuật xâm lấn cứu chữa bệnh nhân nặng diễn ra liên tục.

Hệ thống xử lý nước thải CN2000 tại bệnh viện vận hành có hiệu quả không? Hệ thống vận hành tương đối ổn định với hiệu suất xử lý các chất ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vật gây bệnh đạt trên 85%. Nước thải sau xử lý cơ bản đạt các thông số kỹ thuật cho phép theo quy chuẩn môi trường hiện hành trước khi xả ra mạng lưới thoát nước chung.

Tại sao tỷ lệ phân loại rác đúng mã màu bao bì tại bệnh viện vẫn còn hạn chế? Nguyên nhân chủ yếu do nhận thức về mã màu túi chứa của nhân viên y tế mới đạt khoảng 68%, kết hợp với áp lực người nhà bệnh nhân đông gây quá tải và việc thiếu hụt nguồn cung cấp túi rác dày đạt chuẩn kỹ thuật trên thị trường.

Chất thải lây nhiễm sắc nhọn có nguy cơ lây truyền những bệnh nguy hiểm nào? Các vật sắc nhọn như kim tiêm, lưỡi dao mổ dính máu có thể làm lây nhiễm virus HIV với xác suất khoảng 0,3%, virus viêm gan B khoảng 3% và viêm gan C từ 3% đến 5% nếu người lao động hoặc bệnh nhân bị đâm xuyên qua da.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện bức tranh môi trường tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình với suất phát thải chất thải rắn trung bình 0,88 kg/giường bệnh/ngày.
  • Nhận diện Khoa Hồi sức cấp cứu và Khoa Ngoại là những điểm nóng phát sinh chất thải nguy hại cao gấp 2 lần mức trung bình toàn viện.
  • Khẳng định trạm xử lý nước thải công nghệ CN2000 đạt hiệu quả làm sạch vi sinh và hóa lý trên 85% trước khi thải ra nguồn tiếp nhận.
  • Phát hiện các điểm nghẽn lớn trong chuỗi vận hành gồm khâu phân loại màu sắc túi rác chỉ đạt 30,67% và hạ tầng xe vận chuyển có nắp đậy đạt 53%.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược bao quát từ kỹ thuật phân loại, nâng cấp trạm lưu giữ đến đào tạo nhân sự và bố trí ngân sách.

Đóng góp lớn nhất của công trình là xây dựng cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác và khung giải pháp khả thi, áp dụng hiệu quả cho mạng lưới cơ sở y tế tuyến tỉnh. Lộ trình triển khai khuyến nghị chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn 2019 - 2020 tập trung chuẩn hóa trang thiết bị thu gom và kiểm soát nước thải; giai đoạn 2020 - 2022 nhân rộng mô hình bệnh viện xanh không rác thải nhựa trên địa bàn toàn tỉnh Ninh Bình. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ sở y tế hãy tham khảo ngay luận văn này để áp dụng các giải pháp quản trị môi trường bền vững và an toàn cho cộng đồng!