phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNGMẠI 4 - Chƣơng 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI VIETINBANK – CHI NHÁNH TÂY NINH - Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI VIETINBANK – CHI NHÁNH TÂY NINH. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về rủi ro và rủi ro tín dụng.
Rủi ro là những biến cố xảy ra n g oà i ý mu ố n, dự đị n h c ủa c hủ th ể và đe m l ại n hữn g hậ u qu ả x ấ u. Rủ i ro x ả y ra tr o ng ng ân h àn g s ẽ dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, làm ch o lợi nhuận thực tế giảm đi so với dự kiến hay ngân hàng phải bỏ ra thêm một khoản chi phí bù đắp rủi ro để có thể hoàn thành đƣợc một nghiệp vụ tài chính nhất định. Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tín dụng là hoạt động đem lại lợi nhuận chủ yếu nhƣng cũng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro lớn nhất. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu thì rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng số rủi ro hoạt động của ngân hàng.
Cho dù hiện nay, cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng đã có sự chuyển dịch, theo đó d o a n h thu từ hoạt động tín dụng có xu hƣớng giảm xuống và doanh thu các khoản dịch vụ khác có xu hƣớng tăng lên nhƣng doanh thu từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm từ 1/2 đến 2/3 doanh thu của ngân hàng. Vì thế rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hƣởng nghiêm trọng đến chất lƣợng kinh doanh c ủ a ngân hàng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng: Theo GS. Joel Bessis (2012): Rủi ro tín dụng là những tổn thất do khách hàng vay không trả đƣợc nợ hoặc sự giảm sút chất lƣợng tín dụng của khoản vay.Fitch (1997): Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi ngƣời vay không thanh toán đƣợc nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn 6 trong nghĩa vụ trả nợ.
Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng.Koch (1995): Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và trị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. Theo Henie Van Greuning - Sonja Brajovic Bratanovic (2003): Rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa là nguy cơ mà ngƣời đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đ ây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng.
Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả đƣợc toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hƣởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng.TS Nguyễn Văn Tiến (2018): Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong trƣờng hợp ngân hàng không thu đƣợc đầy đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc việc thanh toán gốc và lãi không đúng kì hạn. Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005: Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Các định nghĩa t r ê n khá đa dạng, chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng nhƣ sau: - Rủi ro tín dụng xảy ra khi ngƣời vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm lỗ ( lãi).
Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán. 7 - Rủi ro tín dụng dẫn đến tổn thất tài chính nhƣ giảm thu nhập ròng, giảm giá trị thị trƣờng của vốn. Trƣờng hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản. Với các nƣớc đang phát triển đặc biệt là Việt Nam, đa số các ngân hàng thiếu đa dạng trong kinh doanh dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy tín dụng là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí là duy nhất đối với các ngân hàng nhỏ.
Do đó, rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Bên cạnh đó, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai yếu tố đồng biến nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng càng cao thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn). Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên ngƣời ta không thể nào loại trừ hoàn toàn đƣợc mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng nhƣ tác hại do chúng gây ra. Phân loại rủi ro tín dụng.
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, tùy theo yêu cầu nghiên cứu. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng đƣợc phân chia thành các loại sau đây: Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung Hình 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng 8 Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm: - Rủi ro lựa chọn: rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phƣơng án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng - Rủi ro bảo đảm: rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo nhƣ mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo… - Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, đƣợc phân thành: - Rủi ro nội tại: Xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế.
- Rủi ro tập trung: Rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Đặc điểm của rủi ro tín dụng. Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng l à rất cần thiết và hữu ích. Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau: Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng.
Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn, nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân g i á n t i ế p gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng. 9 Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả gây ra rủi ro tín dụng do đặc trƣng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp. Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại.
Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt đƣợc các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ. Điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt đƣợc lợi nhuận tƣơng ứng. Tác động của rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Rủi ro tín dụng luôn luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng, ảnh hƣởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn thế giới. Đối với ngân hàng bị rủi ro: Khi không thu hồi đƣợc nợ (gốc, lãi và các khoản phí), nguồn vốn của ngân hàng sẽ bị thất thoát. Trong khi đó ngân hàng vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn huy động từ phía khách hàng khác, vì vậy ngân hàng phải tăng các khoản trích lập dự phòng. Việc thu hồi nợ quá hạn không những làm mất thời gian của cán bộ cho vay, mà còn làm tăng các khoản chi phí về đi lại, đàm phán hay phối hợp với các cơ quan khác để thu hồi đƣợc nợ.
Ngoài ra, ngân hàng cho vay phải bỏ ra chi phí cơ hội rất lớn khi các khoản nợ quá hạn làm chậm lại vòng quay vốn tín dụng, làm mất đi các khoản đầu tƣ khác của ngân hàng, chƣa kể đến sự ảnh hƣởng lớn của nợ 10 qúa hạn tới tâm lý của cán bộ cho vay. Tất cả những vấn đề trên làm giảm thu nhập tiềm ẩn, đồng thời làm tăng chi phí cho ngân hàng. Đối với hệ thống ngân hàng: Trong một quốc gia, hoạt động của một ngân hàng có liên quan mật thiết đến toàn bộ hệ thống ngân hàng, các tổ chức kinh tế, xã hội và các cá nhân trong nền kinh tế cả nƣớc.