CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, là một trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến những nơi có nhu cầu về vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tư, phát triển kinh tế. Theo Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá 10 thông qua vào ngày 12/12/1997 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng ngày 15/6/2004 của Việt Nam: “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”, trong đó: “Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động của ngân hàng thương mại ngày càng đa dạng. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại được khái quát theo 3 loại: hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và hoạt động trung gian. Tín dụng ngân hàng nói chung được hiểu là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả, trong đó ngân hàng chuyển giao một số tiền nhất định cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, khách hàng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho ngân hàng khi đến 4 hạn thanh toán. Đặc điểm của hoạt động tín dụng - Tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng là tiền.
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ ngân hàng sang khách hàng. Khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng, ngân hàng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. - Sự chuyển giao mang tính chất tạm thời và lượng giá trị này được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. - Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, giá trị dôi thêm này gọi là lợi tức.
Phân loại tín dụng Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Phân loại tín dụng giúp thiết lập nên các quy trình tín dụng phù hợp, từ đó nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Sau đây là một số loại hình tín dụng: Căn cứ theo mục đích cho vay Căn cứ vào mục đích cho vay, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng công nghiệp và thương mại: là loại hình cho vay đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ nhằm mục đích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh. - Tín dụng nông nghiệp: là loại hình cho vay để trang trải các chi phí sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Tín dụng tiêu dùng: là loại hình cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân, hộ gia đình để tài trợ mua nhà, mua ô tô hoặc các vật dụng gia đình, trang trải chi phí du lịch, học tập. Căn cứ theo thời hạn cho vay Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng. Căn cứ vào 5 thời hạn cho vay, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng ngắn hạn: là loại hình cho vay có thời hạn đến 12 tháng để đáp ứng sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân. - Tín dụng trung hạn: là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 5 năm.
Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng nhằm mục đích đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ… - Tín dụng dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn trên 5 năm, có thể kéo dài đến 20-30 năm hoặc thậm chí lâu hơn. Tín dụng dài hạn được cung cấp nhằm đáp ứng các nhu cầu vay dài hạn như xây dựng nhà ở, xây dựng các xí nghiệp mới, thiết bị, phương tiện vận tải với quy mô lớn. Căn cứ theo khách hàng vay vốn Căn cứ theo khách hàng vay vốn, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng đối với cá nhân: là loại hình cho vay để bù đắp nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy theo mục đích sử dụng vốn vay và nguồn trả nợ của cá nhân.
- Tín dụng đối với tổ chức/doanh nghiệp: là loại hình cho vay để phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy vào nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp và cá nhân (hộ gia đình): là các khách hàng vay thường xuyên và là đối tượng quan tâm của các ngân hàng thương mại. Ngoài ra, có thể phân chia loại hình tín dụng theo phương pháp hoàn trả, xuất xứ tín dụng, mức độ tín nhiệm với khách hàng vay vốn … 1.
Vai trò của hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng thể hiện vai trò quan trọng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế quốc dân, cụ thể: - Hoạt động tín dụng giúp đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản 6 xuất kinh doanh liên tục và góp phần đầu tư phát triển kinh tế. - Hoạt động tín dụng góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp. - Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn. - Hoạt động tín dụng tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế 1.
Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại là cho vay, do vậy rủi ro tín dụng là loại rủi ro phổ biến nhất trong hoạt động ngân hàng thương mại. Rủi ro tín dụng thường xuyên xảy ra và tiềm ẩn gây hậu quả nghiêm trọng đối với Ngân hàng thương mại. Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng nhận khoản vốn vay không trả, hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng.
Những khoản cho vay của Ngân hàng thương mại luôn hàm chứa rủi ro. Ngân hàng cho khách hàng sử dụng một lượng giá trị hiện tại với mong muốn nhận được giá trị tương lai trong một thời gian nhất định thì rủi ro tín dụng chính là khả năng mong muốn đó không được đáp ứng hay đó là khả năng xảy ra sự khác biệt không mong muốn giữa kết quả thực tế và kết quả kỳ vọng theo kế hoạch. Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động tín dụng - hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Các khoản cho vay thường chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản có của ngân hàng thương mại, ở nước ta, hoạt động tín dụng đem lại khoảng 50%-70% thu nhập cho ngân hàng, nhưng tiềm ẩn rủi ro lớn, gây thiệt hại nặng nề, có khi dẫn đến phá sản ngân hàng.
Trên quan điểm quản lý ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan. Vì vậy, ngân hàng cần phải có những biện pháp đồng bộ, hữu hiệu mới có thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi ro ở một mức độ nằm trong dự kiến của ngân 7 hàng, giảm tới mức thấp nhất thiệt hại do chúng gây ra. Các tiêu chí phản ánh rủi ro tín dụng Để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau đây: - Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ Nợ quá hạn được hiểu là các khoản nợ mà người vay không có khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo hợp đồng tín dụng. Khi đáo hạn, món nợ này sẽ được chuyển sang nợ quá hạn.
Dư nợ quá hạn Hệ số nợ quá hạn = -------------------- Tổng dư nợ Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các Ngân hàng thương mại thường chia nợ quá hạn thành các nhóm sau: + Nợ quá hạn từ 0-10 ngày. + Nợ quá hạn từ 90-180 ngày. + Nợ quá hạn từ 181-360 ngày. + Nợ quá hạn từ 360 ngày trở lên.
- Tỷ lệ nợ xấu Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 24/4/2005 của Thống đốc NHNN “ V/v ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD” đã đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng của các TCTD qua chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu. Dư nợ trong ngân hàng thương mại được chia làm 5 nhóm và nhóm nợ 3,4 và 5 là nợ xấu. Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn: Các khoản nợ trong hạn và TCTD đánh giá có khả năng thu hồi đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; 8 Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại. Nhóm 2: Nợ cần chú ý: Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn trả nợ đã cơ cấu lại được đánh giá là có khả năng trả nợ đầy đủ, đúng hạn.
Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Các khoản nợ gia hạn thời hạn trả nợ lần đầu; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng thanh toán lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. Nhóm 4: Nợ nghi ngờ: Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần thứ hai.