CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CHO VAY VÀ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại a. Khái niệm về hoạt động cho vay [6], [7] Hoạt động của ngân hàng thương mại rất đa dạng, trong đó hoạt động cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu của ngân hàng thương mại.
Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại gồm: Nhận tiền gửi; cấp tín dụng; hoạt động thanh toán; vay vốn của Ngân hàng Nhà nước, vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính; góp vốn mua cổ phần; tham gia thị trường tiền tệ; kinh doanh cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh; nghiệp vụ uỷ thác và đại lý; các hoạt động kinh doanh khác: Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn khách hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn; tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp và tư vấn đầu tư; mua, bán trái phiếu Luan van 9 Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp; dịch vụ môi giới tiền tệ; lưu ký chứng khoán và kinh doanh vàng. Cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả. Ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức sau: Cho vay; chiết khấu, tái chiếc khấu các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; bảo lãnh ngân hàng; phát hành thẻ tín dụng; bao thanh toán trong nước, bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế. Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoản thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Thông qua hoạt động cho vay ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ trong xã hội để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống. Cho vay là quyền của NHTM với tư cách là người cho vay yêu cầu khách hàng của mình – người đi vay muốn vay được vốn phải tuân thủ những điều kiện nhất định, những điều kiện này là cơ sở ràng buộc về mặt pháp lý đảm bảo cho người cho vay có thể thu hồi được vốn (gốc + lãi) sau một thời gian nhất định. Để thu hồi được vốn, các ngân hàng có quyền yêu cầu người đi vay đáp ứng những điều kiện vay cụ thể dựa trên cơ sở mức độ tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau giữa ngân hàng và khách hàng. Mặt khác, cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (NHTM) sang người sử dụng (người vay), sau một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu, hay: Luan van 10 Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM và người vay), trong đó một bên (NHTM) chuyển giao tiền cho bên kia (người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn (gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thời hạn đã thỏa thuận.
Qua khái niệm về cho vay của NHTM cho thấy bản chất cho vay là một giao dịch về tiền trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau. Trong đó sự hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất của cho vay, là nguyên tắc để phân biệt phạm trù cho vay với cấp phát của ngân sách Nhà nước. Nguyên tắc vay vốn [7] Ngân hàng chỉ cho vay khi khách hàng đảm bảo được các nguyên tắc sau: - Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Đây là nguyên tắc cơ bản, vì có sử dụng vốn đúng mục đích thì khách hàng mới có thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo lợi ích dự kiến, do vậy mới có thể thu hồi được vốn để hoàn trả nợ cho ngân hàng.
Nguyên tắc này nhằm hạn chế rủi ro đạo đức và hạn chế khả năng khách hàng dùng vốn vay để thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm. - Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Nguyên tắc này đảm bảo phương châm hoạt động của ngân hàng là “đi vay để cho vay” và thực hiện nguyên tắc trong hạch toán kinh doanh lấy thu bù chi và có lãi. Phân loại cho vay [5] Cho vay của NHTM có thể phân chia thành ra nhiều loại khác nhau, tùy theo những tiêu thức phân loại khác nhau.
- Căn cứ vào thời hạn cho vay: Theo tiêu thức này cho vay có thể phân chia thành các loại sau: Luan van 11 + Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động; + Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định; + Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư.
- Căn cứ vào phương thức cho vay: Theo tiêu thức này, cho vay có thể chia thành các loại sau: + Cho vay từng lần; + Cho vay theo hạn mức tín dụng; + Cho vay theo dự án đầu tư; + Cho vay hợp vốn; + Cho vay trả góp; + Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng; + Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; + Cho vay theo hạn mức thấu chi - Căn cứ vào mục đích của cho vay: Theo tiêu thức này, cho vay có thể phân chia thành các loại sau: + Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp; + Cho vay tiêu dùng cá nhân; + Cho vay mua bán bất động sản; + Cho vay sản xuất nông nghiệp; + Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu… - Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng: Theo tiêu thức này, cho vay có thể được phân chia thành các loại sau: Luan van 12 + Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. + Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. - Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay: Theo tiêu thức này, cho vay có thể được phân chia thành các loại sau: + Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn; + Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cố định; + Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào. Quy trình cho vay [5] Quy trình cho vay là tổng hợp mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi thanh lý hợp đồng cho vay.
Tùy theo đặc điểm tổ chức và quản trị, mỗi ngân hàng đều tự thiết kế và xây dựng cho mình một quy trình cho vay riêng. Quy trình cho vay căn bản gồm các bước: Lập hồ sơ đề nghị cho vay; phân tích và thẩm định cho vay; quyết định cho vay; giải ngân; kiểm tra, giám sát cho vay và thanh lý hợp đồng cho vay, cụ thể như sau: - Lập hồ sơ đề nghị cho vay: Lập hồ sơ cho vay là khâu căn bản đầu tiên của quy trình cho vay, nó được thực hiện ngay sau khi cán bộ cho vay tiếp xúc với khách hàng có nhu cầu vay vốn. Lập hồ sơ cho vay là khâu quan trọng vì nó là khâu thu thập thông tin làm cơ sở để thực hiện các khâu sau, đặc biệt là khâu phân tích và ra quyết định cho vay. Luan van 13 Tùy theo quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, loại cho vay yêu cầu và quy mô cho vay, cán bộ cho vay hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ với những thông tin yêu cầu khác nhau.
Nhìn chung, một bộ phận hồ sơ đề nghị cấp cho vay cần thu thập từ khách hàng những thông tin sau: + Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách hàng. + Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng. + Thông tin về bảo đảm cho vay. Để thu thập được những thông tin căn bản như trên, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải lập và nộp cho ngân hàng các loại giấy tờ sau: + Giấy đề nghị vay vốn + Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, chẳng hạn như giấy phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt động.
+ Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, hoặc dự án đầu tư. + Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất. + Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay. + Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết.
- Phân tích và thẩm định cho vay: Phân tích cho vay là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách hàng về sử dụng vốn vay, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn vay cả gốc và lãi. Mục tiêu của phân tích cho vay là tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, tiên lượng khả năng kiểm soát những loại rủi ro đó và dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế thiệt hại có thể xảy ra. Mặt khác, phân tích cho vay còn quan tâm đến việc kiểm tra tính chân thực của hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp, từ đó nhận định về thái độ trả nợ của khách hàng làm cơ sở quyết định cho vay.