CHƯƠNG 1.1 Giới thiệu chung 1. Phạm vi vùng nghiên cứu Lưu vực sông Kỳ Cùng thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, có toạ độ địa lý từ 21019'00" đến 22027'30" vĩ độ Bắc và từ 106006'07" đến 107021'45" kinh độ Đông. Lưu vực sông Kỳ Cùng đoạn chảy trên lãnh thổ Việt Nam có diện tích lưu vực là 6.660km2, sông dài 243km, bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa thuộc huyện Đình Lập có độ cao 1166m, vĩ độ 21038'20" Bắc và 107021'10" kinh độ Đông chạy từ Đông Nam lên Tây Bắc qua huyện Lộc Bình đến Thành Phố Lạng Sơn. Sông chảy qua TP Lạng Sơn, thị trấn Văn Lãng, thị trấn Thất Khê rồi tới Bi Nhi, từ đây sông vượt biên giới sang Trung Quốc để hợp lưu với sông Bằng Giang tại thị trấn Long Châu, Quảng Tây, Trung Quốc.
Bản đồ lưu vực Bản Lải, Lạng Sơn Hồ chứa nước Bản Lải dự kiến được xây dựng trên sông Kỳ Cùng thuộc địa phận xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. - Vị trí công trình đầu mối hồ chứa nước Bản Lải thuộc địa phận xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, có vị trí địa lý khoảng: 5 2135’ 2145’ vĩ độ Bắc. - Vị trí khu hưởng lợi vùng dự án có vị trí địa lý khoảng: 2142’ 2218’ vĩ độ Bắc. Hệ thống kênh sau công trình đầu mối Hồ chứa nước Bản Lải được xây dựng trên sông địa phận xã Khuất Xá và Tú Đoạn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
Đầu mối Bản Lải, Lạng Sơn 1. Vị trí công trình đầu mối và đặc trưng lưu vực Các đặc trưng lưu vực nghiên cứu tính đến các trạm thủy văn và vị trí công trình đầu mối như sau: Bảng 1- 1: Bảng tổng hợp đặc trưng lưu vực Các đặc trưng Đơn vị TV Lạng Sơn TV Bản Lải Tuyến đập Diện tích lưu vực (Flv) km2 1560 459 457 Chiều dài sông (Ls) km 117 72 71,5 6 1. Các đặc trưng lưu vực nhập lưu vào hệ thống Trên cơ sở tài liệu địa hình, tính toán thủy lực nước dềnh hồ Bản Lải được giới hạn từ thượng nguồn sông Kỳ Cùng đến tuyến đập Bản Lải, gồm 14 lưu vực nhập lưu. Chi tiết hệ thống các nút biên, các lưu vực nhập lưu được trình bày ở bảng sau: Bảng 1- 2: Đặc trưng hình thái các lưu vực nhập lưu Tên Lsông STT F (km2) Tên sông hoặc tên địa danh lưu vực (km) 1 P1 23,5 11,3 S.
Khuổi Mười 2 P2 7,9 4,93 Cách S.54km về phía T. Khuổi Pặc 8 T2 17,1 7,24 Bản Pò Phát 9 T3 4,5 5,15 Xã Lâm Trường 10 T4 4,1 4,19 Thượng lưu cầu Pò Háng 11 T5 6,5 5,25 Cách S. Thao Cát 3,15km về phía hạ lưu 12 T6 28,9 12,7 S. Thao Cát 13 T7 16,3 6,43 Bản Lư 14 Z340 161,1 26,4 Sông Kỳ Cùng (từ thượng nguồn về cao trình 340) 1.
Tình hình tài liệu KTTV Mạng lưới trạm khí tượng Công tác quan trắc khí tượng và đo mưa được tiến hành vào những năm đầu của thế kỷ 20. Tuy nhiên phần lớn các trạm khí tượng thuỷ văn trên lưu vực sông Kỳ Cùng được xây dựng từ khi Miền Bắc đi vào xây dựng đất nước, phổ biến từ 1960, nhưng do có chiến tranh và thiếu kinh phí nên một số trạm đã ngừng đo Trạm khí tượng trên lưu vực sông Kỳ Cùng quan trắc các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, bốc hơi, nắng, gió, mưa và các đặc trưng khí tượng khác. Thông tin các trạm ở xung 7 quanh lưu vực hồ Bản Lải và số liệu quan trắc được thống kê ở bảng 1-3. Đây là chuỗi số liệu được đo đảm bảo thống nhất về phương pháp đo, dụng cụ đo.
Các số liệu khí tượng, đo mưa có chất lượng đảm bảo, tin cậy. Bảng 1- 3: Các trạm đo khí tượng và mưa xung quanh lưu vực nghiên cứu TT Tên trạm Tài liệu đo Thời gian đo Ghi chú 1 Lạng Sơn Khí tượng 1956 nay 2 Đình Lập Khí tượng 1963 nay 3 Lộc Bình Mưa 1961 nay 4 Bản Chắt Mưa 1964 1978 Dừng đo 5 Đồng Quan Mưa 1967 ÷ 1977 -nt- 6 Mẫu Sơn Mưa 2010 ÷ nay 7 Bình Liêu Mưa 1960 nay Mạng lưới trạm thủy văn Mạng lưới trạm thủy văn trên lưu vực sông Kỳ Cùng trước năm 1980 tương đối phong phú. Cả tỉnh có 7 trạm đo mực nước, lưu lượng, trong đó trên lưu vực sông Kỳ Cùng có 5 trạm là: Lạng Sơn, Bản Trại, Văn Mịch, Bản Lải, Bắc Khê. Các trạm Bản Trại, Bản Lải và Bắc Khê đã ngừng hoạt động từ năm 1976 và 1978.
Trên dòng chính Kỳ Cùng có 3 trạm và trên nhánh cấp 2 của Kỳ Cùng có 2 trạm đo có diện tích lưu vực lớn. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau hiện nay trên lưu vực có 2 trạm còn duy trì trong đó có 1 trạm cấp I- Lạng Sơn- trên sông Kỳ Cùng và trạm cấp III- Trạm Vân Mịch bị hạ cấp từ năm 1977 - trên sông Bắc Giang. Hầu hết các trạm thuỷ văn đều do Trung tâm KTTV Quốc gia quản lý, chất lượng tài liệu tin cậy. Thông tin các trạm thủy văn ở xung quanh lưu vực hồ Bản Lải và số liệu quan trắc được thống kê ở bảng 1-3.
Bảng 1- 4: Mạng lưới trạm khí tượng thủy văn vùng nghiên cứu STT Tên trạm F (km2) Thời kỳ quan trắc Ghi chú 1 Bản Lải 459 1966-1977 Dừng đo 2 Lạng Sơn 1560 1958-nay Trạm thuỷ văn cấp I 8 1. Hiện trạng hệ thống sông Kỳ Cùng Hệ thống sông Kỳ Cùng từ thượng lưu đến tuyến đập Bản Lải hầu như vẫn còn là hệ thống sông nguyên thủy chưa bị tác động nhiều của con người. Trên sông Kỳ Cùng tính từ đập Bản Văn xuống đến đập Bản Lải có 2 cầu giao thông bắc qua là cầu Hát Loong và cầu Pò Háng với quy mô kích thước như bảng sau: Bảng 1- 5: Quy mô kích thước các công trình trên hệ thống sông Kỳ Cùng Tên cầu Vị trí Quy mô (nxBxh) Hát Loong K10+650 1x80x10 Pò Háng K22+100 3x30x10 Trong thời gian thực hiện dự án đơn vị tư vấn đã đi điều tra lũ lịch sử, lũ thực tế các năm gần đây như 2008, 2014. khảo sát thực địa các công trình trên hệ thống sông Kỳ Cùng.
Đoàn khảo sát được thực hiện vào tháng 03/2016 Bảng 1- 6: Các vết lũ điều tra năm thực tế dọc sông Kỳ Cùng Mực nước điều tra Tên vết STT Năm điều tra Ghi chú lũ (m) 1 TV21 2014 322,20 CAU NALOONG 2 TV13 2014 308,60 CAU POHANG 3 TV12 2014 307,85 HL CAU POHANG 4 Lũ LS 2014 306,36 THON PO PHAT 29HO-MC18 5 Lũ LS 2014 287,12 THON TAM PAT MC3 6 Lũ LS 2014 282,44 THON BANLAI 26HO 7 TV04 2014 282,54 MATCAT SO 0 8 TV02 2014 282,70 DAP BAN LAI 1 TV10 2008 308,71 CAU PO HANG 2 TV14 2008 308,76 DONG PHIENG LUONG 3 TV06 2008 284,69 THON BANLAI 26HO 4 TV05 2008 283,32 DAP BAN LAI 9 1. Tổng quan về đặc điểm tự nhiên vùng nghiên cứu Lưu vực Hồ chứa nước Bản Lải nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa trong năm chia ra hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ Vùng nghiên cứu có nhiệt độ thấp trong cả nước, dạng phân phối một đỉnh, thấp nhất vào tháng 1 (12,8oC 15,6oC) cao nhất vào tháng 7 (26,7oC 28,6oC).
Biên độ dao động ngày đêm cũng như giữa các tháng trong năm lớn. Theo số liệu quan trắc nhiệt độ tối thấp tuyệt đối xuống đến -2,8oC (năm 1974 tại Đình Lập). Vào mùa lạnh có nhiều ngày nhiệt độ xuống 5 8oC, có khi 3 4oC. Vùng núi đá vôi và vùng đồi trọc, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm có lúc đến 15,2oC, (Bảng 1-1).
Bảng 1- 7: Đặc trưng nhiệt độ không khí tại các trạm khí tượng (0C) Tháng Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Ttb 13,1 14,5 18,0 22,2 25,3 26,8 27,0 26,5 25,0 22,1 18,1 14,6 Lạng Tmax 31,6 36,4 36,7 38,6 39,8 37,6 37,6 37,1 36,6 35,2 33 32,2 Sơn Tmin -2,1 -1,7 0,9 6,2 11,1 6,2 18,6 17,0 13,2 7,1 1,7 -1,5 Ttb 13,7 15,5 18,6 22,5 25,5 26,8 27,0 26,5 25,1 22,5 18,6 15,2 Đình Tmax 31 35,7 35,7 36,6 37,8 37,1 37,8 37 36,2 36,7 33,1 31,1 Lập Tmin -2,8 0,8 0,7 8,0 13,0 14,6 18,4 19,3 13,4 6,3 0,5 -1,9 1. Số giờ nắng Tổng số giờ nắng trong năm đã đo đạc được từ một số trạm khí tượng khoảng 1475 1575 giờ. Vùng có số giờ nắng lớn là khu vực thành phố Lạng Sơn, còn các huyện Cao Lộc, Lộc Bình, Đình Lập, ở Bắc Sơn và Văn Quan thấp hơn, và ít nhất vùng Mẫu Sơn. 10 Các tháng trong mùa hè, kể cả những tháng mưa nhiều như tháng 7, 8, số giờ nắng tháng cũng lớn hơn 150 giờ.
Trong mùa đông, thông thường cũng đạt trên 45 giờ nắng mỗi tháng, (Bảng 1-2). Bảng 1- 8: Số giờ nắng bình quân tháng, năm tại các trạm khí tượng (giờ) Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Lạng Sơn 77,4 58,9 61,1 97,8 172,6 160,1 181,6 170,6 178,0 158,5 138,7 120,4 1576 Đình Lập 74,0 53,8 55,4 87,6 159,7 151,3 165,7 154,8 165,1 155,9 142,4 122,0 1488 1. Độ ẩm Độ ẩm của không khí ít biến đổi. Độ ẩm lớn nhất thường vào tháng 8 và tháng 3.
Tháng có độ ẩm tương đối thấp là tháng 12 và tháng 5 hàng năm. Độ ẩm không khí trung bình tháng được trình bày ở bảng sau: Bảng 1- 9: Độ ẩm tương đối trung bình tháng tại các trạm khí tượng (%) Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Lạng Sơn 80 82 84 83 82 84 85 86 85 82 80 78 83 Đình Lập 79 82 85 85 84 86 87 88 86 82 79 78 83 1. Bốc hơi Lượng bốc hơi năm trung bình nhiều năm biến đổi từ 1000 1100 mm và phân bố không đều. Tháng có lượng bốc hơi lớn thường vào tháng 5 là tháng có cán cân bức xạ lớn và độ ẩm nhỏ nhất trong năm, lượng bốc hơi từ 80 120mm/tháng.
Lượng bốc hơi tháng nhỏ nhất thường xảy ra vào tháng 2, là thời kỳ mưa phùn và ẩm ướt, lượng bốc hơi tháng trung bình 40 70mm, (Bảng 1-4). Bảng 1- 10: Lượng bốc hơi bình quân tháng trung bình nhiều năm trạm Lạng Sơn (mm) Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Zpitch 81,0 69,3 77,5 86,1 99,4 84,6 83,6 74,3 79,9 95,3 95,8 93,5 1020,3 11 1. Chế độ gió Tốc độ gió bình quân năm dao động từ 1,0 đến 1,8m/s, khi có bão mạnh tốc độ gió đã đạt tới gần 40m/s.