Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự gia tăng dân số cùng tốc độ phát triển kinh tế - xã hội tại các đô thị đang kéo theo lượng chất thải rắn nói chung và chất thải nhựa (RTN) nói riêng tăng lên nhanh chóng. Nhựa là vật liệu có liên kết polyme bền vững, cần từ 450 đến 1.000 năm mới có thể phân hủy hoàn toàn trong tự nhiên. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải sinh hoạt còn bộc lộ nhiều hạn chế, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí.

Thành phố Hòa Bình là đô thị miền núi phía Tây Bắc, trung tâm chính trị - kinh tế của tỉnh Hòa Bình. Cùng với quá trình đô thị hóa và sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng (đặc biệt là đồ nhựa dùng một lần và túi nilon), lượng chất thải nhựa phát sinh trên địa bàn ngày càng lớn. Tuy nhiên, hoạt động thu gom rác thải chưa triệt để, rác thải nhựa chưa được phân loại tại nguồn, hạ tầng xử lý quá tải và ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưa cao, gây ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan đô thị và lưu vực sông Đà. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Lê Thanh Tùng đã thực hiện khóa luận nhằm khảo sát, phân tích hiện trạng và đề xuất giải pháp giảm thiểu chất thải nhựa sinh hoạt tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Đánh giá thực trạng chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
  2. Đề xuất các giải pháp giảm thiểu chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:

  1. Nghiên cứu hiện trạng sử dụng các loại chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình.
  2. Nghiên cứu thực trạng quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
  3. Đề xuất giải pháp quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất thải nhựa sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thành phố Hòa Bình.
  • Phạm vi không gian: 6 phường nội thành của thành phố Hòa Bình, gồm Phương Lâm, Đồng Tiến, Chăm Mát, Tân Thịnh, Hữu Nghị và Thịnh Lang.
  • Phạm vi nội dung: Các hoạt động phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nhựa sinh hoạt và nhận thức của các nhóm đối tượng liên quan.
  • Thời gian nghiên cứu: Khóa luận được hoàn thành vào năm 2020; các số liệu thống kê kinh tế - xã hội và số liệu điều tra thực địa được thu thập trong giai đoạn 2018–2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành khoa học môi trường về chất dẻo và chất thải rắn:

  • Nhựa: Hợp chất cao phân tử tổng hợp (polyethylene, polystyrene, polyester...) có đặc tính bền, nhẹ, chống ăn mòn và cách điện tốt.
  • Chất thải nhựa và chất thải nilon: Những sản phẩm nhựa đã qua sử dụng bị vứt bỏ, trong đó túi nilon chủ yếu cấu thành từ nhựa polyethylene (PE).
  • Vi nhựa (microplastic): Các hạt nhựa có kích thước dưới 5 mm hình thành từ quá trình vỡ vụn cơ học của rác thải nhựa lớn, có khả năng xâm nhập chuỗi thức ăn, hấp phụ độc chất và vượt qua các rào cản sinh học của cơ thể sống.
  • Các phụ gia độc hại: Hóa chất Bisphenol-A (BPA), phthalate, chất chống cháy brôm, cùng sự phát sinh khí độc dioxin và furan khi đốt cháy nhựa không đúng quy chuẩn kỹ thuật.
  • Tài liệu tham khảo và đối sánh: Số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP 2018), Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO 2018), Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, Hiệp hội Nhựa Việt Nam và báo cáo tổng hợp của Trần Thu Hương (2019).

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng:

  • Phương pháp kế thừa số liệu: Thu thập và xử lý các báo cáo thống kê về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng quản lý chất thải rắn từ Ủy ban nhân dân thành phố Hòa Bình và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình; kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Trực tiếp quan sát, ghi nhận thực tế tại 25 thùng rác công cộng (loại 60L và 80L), các tuyến đường phố chính, điểm tập kết rác tại phường Thịnh Lang, kiểm tra phương tiện thu gom (xe đẩy tay, xe cải tiến, xe ép rác chuyên dụng) và khảo sát hiện trạng bãi chôn lấp rác tại dốc Búng (phường Tân Hòa) cùng bãi rác Lương Sơn.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Triển khai điều tra bằng phiếu câu hỏi với tổng quy mô mẫu là 330 phiếu, phân bổ đều cho 6 phường (mỗi phường 55 phiếu). Mẫu điều tra được cơ cấu thành 4 nhóm đối tượng cụ thể:
    • Hộ gia đình: 246 phiếu (41 hộ/phường), lựa chọn mẫu ngẫu nhiên dựa trên danh sách số nhà thông qua hàm ngẫu nhiên của phần mềm Microsoft Excel.
    • Hộ kinh doanh: 60 phiếu (10 hộ/phường), lựa chọn theo mẫu mục tiêu là các cơ sở dịch vụ ăn uống, giải khát, tạp phẩm sử dụng nhiều đồ nhựa một lần (quán chè, cháo dinh dưỡng, trà chanh, quán xôi).
    • Người thu gom, thu mua phế liệu: 12 phiếu (2 người/phường), chọn mẫu thuận tiện.
    • Cán bộ quản lý môi trường địa phương: 12 phiếu (2 cán bộ/phường), chọn mẫu thuận tiện.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất thải nhựa, các nguồn phát sinh chính trong đời sống (dân cư, du lịch, thương mại, y tế, xây dựng, công nghiệp) và phân tích tác động tiêu cực của rác thải nhựa tới môi trường đất (làm mất kết cấu đất, xói mòn, cản trở oxy), môi trường nước (gây tắc nghẽn dòng chảy, ngập lụt), môi trường không khí (phát thải khí nhà kính và độc chất khi đốt hở) và sức khỏe con người. Tác giả tổng hợp bức tranh toàn cầu: mỗi phút tiêu thụ 1 triệu chai nhựa, mỗi năm sử dụng 5.000 tỷ túi nilon; trong 6,3 tỷ tấn rác nhựa phát sinh lũy kế tính đến năm 2015 chỉ có 9% được tái chế, 12% thiêu đốt và 79% chôn lấp hoặc thải trực tiếp ra tự nhiên.

Văn bản phân tích bài học kinh nghiệm quản lý từ Nhật Bản (luật tái chế nghiêm ngặt, tái chế 20,8% chất thải, chuyển đổi chai PET thành sợi may mặc), Singapore (chương trình biến rác thành năng lượng), Indonesia (đổi chai nhựa lấy vé xe buýt tại Surabaya), Úc và Na Uy (tỷ lệ tái chế chai nhựa đạt 97%). Tại Việt Nam, chất thải nhựa chiếm khoảng 8–12% chất thải rắn sinh hoạt; mỗi ngày Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thải ra khoảng 80 tấn nhựa và nilon. Trên phạm vi toàn tỉnh Hòa Bình, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 127,043 tấn/ngày (thu gom đạt 109,257 tấn/ngày), trong khi khu vực nông thôn phát sinh 379,571 tấn/ngày nhưng tỷ lệ thu gom chỉ đạt 31% (117,667 tấn/ngày trên 73/191 xã).

Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này xác định hệ thống mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể và ba nội dung nghiên cứu trọng tâm của đề tài. Đồng thời, tác giả mô tả chi tiết phương pháp tiếp cận nghiên cứu gồm kế thừa số liệu văn phòng, khảo sát hiện trường và kỹ thuật thiết kế, thu thập dữ liệu bằng phiếu điều tra xã hội học với 330 đối tượng thuộc 4 nhóm tại 6 phường trọng điểm của thành phố Hòa Bình.

Chương 3: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

Chương 3 trình bày các đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố Hòa Bình (tọa độ địa lý từ 20°30’ đến 20°50’ vĩ Bắc, 105°15’ đến 105°25’ kinh Đông, cách Hà Nội 76 km). Địa hình thành phố gồm 75% diện tích là đồi núi bao quanh vùng trung tâm bằng phẳng. Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 25°C, lượng mưa trung bình năm 1.860 mm. Sông Đà chảy qua thành phố dài 23 km với hồ thủy điện Hòa Bình có dung tích 9,5 tỷ m³, giữ vai trò điều tiết nước và tạo cảnh quan.

Về mặt hành chính, thành phố có 8 phường và 7 xã; tổng dân số tính đến tháng 12/2018 là 101.000 người, mật độ 704 người/km². Dân số của 6 phường nghiên cứu tại thời điểm khảo sát là 51.849 người. Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh 6 tháng đầu năm 2010 ước đạt 11,7% (công nghiệp - xây dựng tăng 20,7%, dịch vụ tăng 11,69%, nông lâm thủy sản tăng 3,5%); thu nhập bình quân đầu người năm 2019 đạt 63,5 triệu đồng. Thành phố lưu giữ nhiều giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc Mường với 252 đội văn nghệ cơ sở, tạo tiềm năng phát triển dịch vụ - du lịch nhưng cũng làm tăng áp lực phát sinh rác thải sinh hoạt.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các kết quả định lượng:

  • Nguồn phát sinh và khối lượng: Chất thải nhựa tại 6 phường phát sinh từ hộ gia đình, trường học, công sở, 60 cơ sở kinh doanh ăn uống, khu vực đường phố và rác thải y tế. Khối lượng phát sinh dao động từ 68 kg/ngày (phường Tân Thịnh) đến 170 kg/ngày (phường Đồng Tiến), trung bình mỗi phường phát sinh 123 kg/ngày. Lượng chất thải nhựa sinh hoạt bình quân đầu người đạt 14,23 g/người/ngày.
  • Thành phần rác thải nhựa: Túi nilon chiếm tỷ lệ cao nhất với 55%, tiếp theo là chai nhựa (16%), cốc nhựa (11,4%), ống hút (6,9%), hộp xốp (5,7%) và các sản phẩm khác (5,3%). Khảo sát 60 hộ kinh doanh cho thấy trên 67% sản phẩm nhựa một lần bán ra là túi nilon, với mức tiêu thụ trung bình xấp xỉ 3 kg/ngày/hộ.
  • Thực trạng phân loại và xả thải: Có 51% hộ gia đình được hỏi cho biết có phân loại riêng đồ nhựa để bán phế liệu, tuy nhiên chỉ có 36% thực hiện thường xuyên, 64% thỉnh thoảng mới phân loại. Về cách thức xả thải, 55% người dân tập kết tại điểm thu gom, 43% xả ra bãi rác chung và dưới 2% tự chôn lấp hoặc đốt tại vườn.
  • Thu gom, vận chuyển và xử lý: Công ty Cổ phần Môi trường Đô thị Hòa Bình đảm nhận việc thu gom bằng xe đẩy tay và xe ép chuyên dụng về điểm tập kết tại phường Thịnh Lang. Tần suất thu gom đối với hộ gia đình là 2 ngày/lần, khu công nghiệp 2 lần/tuần và khách sạn, nhà hàng là 2 lần/ngày. Rác thải chưa được phân loại riêng mà vận chuyển toàn bộ về bãi rác Lương Sơn do Chi nhánh Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Hoàng Long vận hành (do bãi rác dốc Búng tại phường Tân Hòa đã quá tải). Bãi rác Lương Sơn tiếp nhận trên 55 tấn rác/ngày đêm từ thành phố Hòa Bình, lượng rác tồn đọng ước tính khoảng 150.000 tấn, chôn lấp hở không có vải lót đáy, xử lý mùi sơ sài bằng chế phẩm EM, nước rỉ rác có nguy cơ thẩm thấu xuống sông Đà.
  • Nhận thức cộng đồng và đề xuất giải pháp: 58% người được phỏng vấn không nắm rõ tác hại của chất thải nhựa (trong đó 42% cán bộ quản lý không biết). Về khả năng thay thế đồ nhựa một lần, gần 100% người được hỏi ủng hộ, trong đó 66% khẳng định tiêu chí quan trọng nhất là "giá thành phải rẻ hơn hoặc bằng sản phẩm nhựa dùng một lần".

Chương 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Chương kết luận tóm lược các phát hiện nghiên cứu chính về lượng phát sinh và tỷ lệ thành phần rác thải nhựa tại 6 phường. Tác giả chỉ ra các tồn tại: thiếu quy chế pháp lý riêng biệt về quản lý chất thải nhựa, tỷ lệ phân loại tại nguồn mang tính tự phát thấp, phương tiện thu gom rác thiếu chuẩn hóa và công nghệ xử lý chôn lấp lạc hậu. Trên cơ sở đó, khóa luận kiến nghị các cơ quan ban ngành thành phố tăng cường nguồn kinh phí, đẩy mạnh truyền thông học đường và quy hoạch hoàn chỉnh mạng lưới xử lý rác thải rắn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp các dữ liệu định lượng cụ thể về khối lượng và cơ cấu phát sinh chất thải nhựa sinh hoạt tại 6 phường nghiên cứu thuộc thành phố Hòa Bình:

STT Phường Dân số (người) Khối lượng RTN (kg/ngày) RTN bình quân (g/người/ngày)
1 Phương Lâm 10.517 125 11,89
2 Đồng Tiến 10.712 170 15,87
3 Tân Thịnh 8.606 68 7,90
4 Hữu Nghị 9.315 125 13,42
5 Thịnh Lang 4.534 130 28,67
6 Chăm Mát 8.165 120 14,70
Tổng / TB 6 phường 51.849 738 14,23

So sánh với các địa phương khác trong văn bản: mức phát sinh bình quân đầu người tại 6 phường của thành phố Hòa Bình (14,23 g/người/ngày) thấp hơn mức trung bình cả nước (15,95 g/người/ngày), thành phố Cần Thơ (17,24 g/người/ngày) và TP. Hồ Chí Minh (22,24 g/người/ngày), nhưng cao hơn tỉnh Quảng Ninh (10,00 g/người/ngày).

Về tỷ lệ phân loại rác thải nhựa tại hộ gia đình: Phương Lâm đạt 70%, Đồng Tiến đạt 53,4%, Tân Thịnh đạt 73,9%, Hữu Nghị đạt 29,8%, Thịnh Lang đạt 9,25% và Chăm Mát đạt 73,9% (trung bình 51%).

Dữ liệu khảo sát nhận thức về tác hại của chất thải nhựa giữa các nhóm đối tượng:

STT Nhóm đối tượng Quy mô mẫu (người) Có biết tác hại (%) Không biết tác hại (%)
1 Hộ gia đình 246 45 55
2 Người thu gom, thu mua RTN 12 42 58
3 Hộ kinh doanh 60 23 77
4 Cán bộ quản lý môi trường 12 58 42
Trung bình Toàn bộ đối tượng 330 42 58

Các biện pháp giảm thiểu được tác giả đề xuất:

  • Thúc đẩy sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế túi nilon (dùng túi vải, giỏ mây tre đan, bao gói bằng lá tự nhiên, ống hút tre/giấy); khuyến nghị chính sách hỗ trợ trợ giá để sản phẩm sinh học cạnh tranh được với nhựa dùng một lần.
  • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục: chấm dứt quy định bắt buộc bọc sách vở bằng bìa nilon trong trường học, tổ chức phong tràu thu gom phế liệu đổi lấy cây xanh.
  • Hoàn thiện mạng lưới thu gom, chuẩn hóa phương tiện cơ giới tránh rơi vãi nước rỉ rác; bố trí bổ sung thùng rác công cộng có ngăn phân loại tại các điểm du lịch và trục đường lớn; chuyển đổi kỹ thuật tại bãi xử lý rác Lương Sơn để ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước sông Đà.
  • Ban hành cơ chế chính sách, quy chế quản lý và chế tài xử phạt hành vi không phân loại hoặc vứt rác bừa bãi; bồi dưỡng chuyên môn môi trường cho cán bộ cấp cơ sở.

Đóng góp của nghiên cứu: Khóa luận đã thiết lập được bộ cơ sở dữ liệu thực địa cập nhật năm 2020 về hiện trạng chất thải nhựa tại 6 phường trung tâm thành phố Hòa Bình. Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý thực tiễn: túi nilon là loại rác chiếm tỷ trọng thải bỏ lớn nhất (55%) nhưng mạng lưới thu mua phế liệu chỉ tập trung thu hồi chai nhựa (chiếm 67% lượng thu mua, trung bình 35 kg/ngày/người thu gom), đồng thời lượng hóa được rào cản giá thành là yếu tố chi phối hàng đầu (66%) quyết định khả năng chuyển đổi hành vi tiêu dùng xanh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian mới chỉ giới hạn ở 6 phường trung tâm, chưa mở rộng điều tra tại 2 phường còn lại và 7 xã nông thôn thuộc thành phố Hòa Bình.
  • Số liệu khối lượng rác thải nhựa tại các phường chủ yếu dựa trên ước tính của cán bộ quản lý và kết quả phỏng vấn xã hội học, chưa thực hiện cân đo thực nghiệm trực tiếp từng loại polyme nhựa theo các mùa trong năm.
  • Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào chất thải nhựa sinh hoạt và cơ sở dịch vụ ăn uống, chưa đánh giá sâu chất thải nhựa nông nghiệp (màng phủ nông nghiệp, bao gói thuốc bảo vệ thực vật) và chất thải nhựa y tế.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiến hành đo đạc thực nghiệm cơ học - vật lý bằng phương pháp lấy mẫu phân tích thành phần chất thải rắn định kỳ nhằm xác định chính xác tỷ lệ các loại nhựa (PE, PET, PP, PS, PVC).
  • Mở rộng phạm vi khảo sát ra khu vực nông thôn của tỉnh Hòa Bình nhằm giải quyết bài toán thu gom chất thải sinh hoạt đang còn thấp (chỉ đạt 31%).
  • Nghiên cứu cơ chế tài chính và chuỗi cung ứng vật liệu phân hủy sinh học có chi phí thấp để thay thế túi nilon dùng một lần tại các chợ dân sinh và hộ kinh doanh nhỏ lẻ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Quản lý Đô thị và Kỹ thuật Môi trường làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận thiết kế phiếu điều tra xã hội học và xử lý số liệu rác thải nhựa đô thị.
  • Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hòa Bình, Công ty Cổ phần Môi trường Đô thị Hòa Bình) trong việc xây dựng phương án quy hoạch điểm tập kết rác và xây dựng quy định phân loại rác tại nguồn.
  • Các nhà hoạch định chính sách kinh tế môi trường quan tâm đến rào cản về giá thành của các sản phẩm sinh học tự hủy trong thương mại bán lẻ.

Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm hệ thống 4 phụ lục bảng hỏi điều tra phân tầng theo nhóm đối tượng và các số liệu điều tra thực trạng quản lý bãi rác Lương Sơn tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng chất thải nhựa sinh hoạt bình quân đầu người tại 6 phường thành phố Hòa Bình là bao nhiêu?
Số liệu nghiên cứu xác định lượng chất thải nhựa sinh hoạt bình quân tại 6 phường đạt 14,23 g/người/ngày. Phường có mức bình quân thấp nhất là Tân Thịnh (7,90 g/người/ngày) và cao nhất là Thịnh Lang (28,67 g/người/ngày).

Loại chất thải nhựa nào phát sinh nhiều nhất trong sinh hoạt và kinh doanh tại khu vực nghiên cứu?
Túi nilon là loại phát sinh nhiều nhất, chiếm 55% ý kiến lựa chọn của người dân; tiếp theo là chai nhựa (16%), cốc nhựa (11,4%), ống hút (6,9%) và hộp xốp (5,7%). Tại các hộ kinh doanh, túi nilon chiếm tới hơn 67% tổng lượng sản phẩm nhựa dùng một lần bán ra.

Tỷ lệ phân loại rác thải nhựa tại nguồn của các hộ gia đình trên địa bàn đạt mức nào?
Có 51% hộ gia đình được hỏi cho biết có phân loại chất thải nhựa (chủ yếu gom bán phế liệu chai nhựa). Tuy nhiên, chỉ có 36% số hộ thực hiện thường xuyên, 64% thỉnh thoảng mới phân loại và chưa có quy định bắt buộc hay hỗ trợ bao bì từ chính quyền.

Bãi rác Lương Sơn đang xử lý chất thải sinh hoạt của thành phố Hòa Bình như thế nào?
Bãi rác do Chi nhánh Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Hoàng Long vận hành, tiếp nhận trên 55 tấn rác/ngày đêm từ thành phố Hòa Bình với tổng lượng tồn đọng ước tính 150.000 tấn. Rác được chôn lấp hở không có vải lót đáy, xử lý sơ sài bằng chế phẩm EM và chưa có hệ thống xử lý nước rỉ rác đạt chuẩn, gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sông Đà.

Yếu tố nào được các đối tượng khảo sát coi là quan trọng nhất để sản phẩm thân thiện thay thế được đồ nhựa dùng một lần?
Trung bình 66% đối tượng được hỏi (gồm 100% cán bộ, hộ gia đình và người thu gom đồng thuận thay thế) khẳng định yếu tố quyết định là giá thành của sản phẩm thân thiện với môi trường phải rẻ hơn hoặc bằng sản phẩm nhựa dùng một lần.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lê Thanh Tùng đã phản ánh chi tiết thực trạng phát sinh, thu gom và quản lý chất thải nhựa sinh hoạt tại 6 phường trung tâm thành phố Hòa Bình năm 2020. Kết quả nghiên cứu làm rõ mức thải bình quân 14,23 g/người/ngày với tỷ trọng lớn nhất thuộc về túi nilon (55%), đồng thời chỉ ra những hạn chế lớn về hạ tầng xử lý rác quá tải tại bãi rác Lương Sơn cùng nhận thức còn thấp của cộng đồng và cán bộ cơ sở. Các giải pháp do tác giả đề xuất mang tính hệ thống từ hỗ trợ giá sản phẩm thay thế, phân loại rác tại nguồn đến hoàn thiện thể chế quản lý môi trường đô thị miền núi.