chương I, nó được bố trí các cửa van công tác, van sửa chữa, lưới chắn rác, thiết bị đóng mở, thiết bị năng chuyển, các ống thông khí và ống cân bằng áp lực v. Hình dạng và nguyên tắc bố trí các bộ phận cần phải bảo đảm tổn thất thuỷ lực nhỏ nhất và thuận lợi an toàn trong vận hành. Van công tác (van sự cố- sửa chữa) của cửa nước vào về mặt nguyên tắc là van phẳng với các thiết bị đóng mở độc lập có khả năng điều khiển tự động tại chỗ. Nếu đường ống dẫn nước turbin bố trí hở trên mặt đất thì van công tác phải là van đón nhanh.
Van sửa chữa ở cửa lấy nước bể áp lực thường dưới dạng phai hoặc van phẳng. 5 Do dòng chảy vào bể áp lực không chứa vật nổi và các rác bẩn có kích thước lớn nên lưới chắn rác được bố trí giữa hai cửa van sửa chữa và van công tác và đặt nghiêng một góc 10o÷ 30o theo phương thẳng đứng vì đặt nghiêng sẽ tiện lợi cho việc dọn rác bằng các thiết bị cơ giới. Ngưỡng cửa lấy nước phải đặt ở cao trình sao cho miệng các ống dẫn nước turbin phải ngập dưới mực nước thấp nhất trong bể áp lực để đảm bảo không khí không lọt vào đường ống trong quá trình vận hành bình thường. Đỉnh tường chắn bể áp lực và cửa lấy nước đặt cao hơn mực nước cao nhất trong bể áp lực từ 0,3÷ 1,0 m tùy thuộc vào kích thước bể và cấp công trình.2 Khoang trước Khoang trước là phần mở rộng của đường dẫn trước cửa lấy nước.
Nó là phần nối tiếp đường dẫn không áp với cửa nước vào nhằm đảm bảo cho dòng chảy được thuận dòng sao cho tổn thất thuỷ lực trong bể áp lực và tại cửa vào là nhỏ nhất. Để đạt được điều đó, yêu cầu đối với bộ phận chuyển tiếp phải có tiết diện lớn, vận tốc dòng chảy trong nó trước khi tới cửa lấy nước phải nhỏ để phần lớn động năng dòng chảy trong đường dẫn biến thành thế năng, sự tiếp nối bộ phận này với đường dẫn và với cửa nước vào phải thuận dòng. Chiều rộng và chiều sâu của khoang trước được quyết định bởi tiết diện đường dẫn không áp và chiều rộng, chiều cao của cửa lấy nước. Kích thước tiết diện đầu khoang trước của bể áp lực là kích thước kênh dẫn, chúng tăng dần cả theo chiều sâu lẫn trên mặt bằng và đến cuối khoang do kích thước cửa lấy nước quyết định.3 Cắt dọc bể áp lực theo dòng chảy.
1- Kênh dẫn; 2- Khe phai; 3- Lưới chắn rác; 4- Cửa lấy nước; 5- Ống thông khí; 6- Cửa van công tác; 7- Ống dẫn nước turbin Hình 1.4 Các bộ phận cấu thành của bể áp lực. 1- Ống dẫn nước turbin; 2- cửa lấy nước; 3- Khoang trước; 4- Xi phông xả nước; 5- Tràn; 6- Dốc nước; 7, 8 & 9 - Đường tháo vật nổi (băng tuyết); 10- Lỗ xả cát; 11- Lỗ xả đáy; 12- Tường ngực; 13- Công trình liên kết bể điều tiết ngày; 14- Ống tháo cạn bể điều tiết ngày 7 Góc mở rộng của bể áp lực ( khoang trước) không vượt quá 10o÷12o độ theo phương ngang cũng như phương thẳng đứng. Vận tốc dòng chảy trong bộ phận này thường từ 0,6÷ 0,8 m/s. Cửa nước vào và khoang trước nối tiếp với nhau bằng tường cánh giống như phần tiếp nối của các vai đập.
Nếu chiều dài của bể áp lực đảm bảo các điều kiện tiếp nối và mở rộng quá lớn, để giảm nó người ta thường bố trí trong bể áp lực các tường hướng dòng dưới dạng trụ bin hoặc tường với chiều dày nhỏ (hình 1.5 Các sơ đồ bố trí các thành phần của bể áp lực 1- Kênh dẫn; 2- Khoang trước; 3- Đường ống dẫn nước áp lực; 4- Đường xả vật nổi; 5- Tràn; 6- Tường hướng vật nổi; 7- Phao nổi; 8- Trụ pin hướng dòng; 9&10- Dốc nước Khoang trước của bể áp lực có thể bố trí dưới hình thức khối chìm, nửa chìm nửa nổi hoặc nổi hoàn toàn bằng các đê bao hoặc các tường chắn nước. Hình dạng của nó hoặc các bộ phận tiếp nối với đường dẫn, cửa nước vào phụ thuộc vào điều kiện địa hình, địa chất tại vị trí công trình.3 Công trình xả nước Công trình xả nước của bể áp lực có công dụng xả bỏ nước khi trạm thuỷ điện giảm công suất và trong các trường hợp cắt tải sự cố của trạm thuỷ điện. Yêu cầu đối với các công trình xả nước phải đảm bảo đóng mở tự động và đóng mở nhanh. Đối với kênh không tự điều tiết thì nhất thiết phải bố trí công trình xả nước ở cuối để khống chế mực nước cao nhất trong kênh, còn ở kênh tự điều tiết thì việc bố trí công trình xả nước trong thành phần kết cấu của bể áp lực khi hạ lưu có nhu cầu cung 8 cấp nước liên tục với lưu lượng lớn.
Lưu lượng tính toán của công trình xả nước thường lấy bằng lưu lượng lớn nhất trong kênh. Công trình xả nước được chia làm hai bộ phận: phần đầu mối nằm trong thành phần bể áp lực, phần dẫn nước xuống hạ lưu thường dưới dạng dốc nước. Phần đầu mối công trình xả nước tự động thường sử dụng tràn không cửa van (tràn tự do), xi phông và cống tháo nước với cửa van đóng mở tự động. Tràn không cửa van có ưu điểm là đơn giản về cấu tạo, vận hành an toàn, không có trường hợp tràn không làm việc do sự cố bản thân như đối với tràn có cửa van và các công trình xả nước có cửa van khác.
Nhược điểm cơ bản của tràn không cửa van là lưu lượng đơn vị tháo qua tràn nhỏ và do đó chiều rộng tràn đòi hỏi có kích thước lớn hoặc chiều cao lớp nước tràn phải lớn ( thường h=0,5÷ 0,75 m) và do đó phải nâng cao bờ bể áp lực và đường dẫn. Tràn không cửa van có thể bố trí dưới dạng một máng tràn hoặc nhiều máng tràn .6a là sơ đồ cấu tạo và bố trí công trình xả nước kiểu máng tràn đơn (một máng tràn), trong trường hợp này diện tràn nước tương đối lớn, tuy bố trí một máng tràn nhưng nó tiếp nhận nước từ ba phía do đo có thể giảm chiều cao lớp nước tràn. Công trình xả nước với nhiều máng tràn trên hình 1.6b, diện tràn nước rất lớn tuy chiều rộng của công trình tràn không lớn, lớp nước trên tràn có chiều cao nhỏ hơn rất nhiều. Trong nhiều trường hợp công trình xả nước được làm dưới dạng tràn tự do thông thường.
Xi phông cũng thường được sử dụng làm công trình xả nước của bể áp lực, nó cho phép khống chế dao động trong bể áp lực một cách linh hoạt, lưu lượng đơn vị xi phông lớn hơn tràn tự do từ 4÷5 lần. Tràn kiểu xi phông được cấu tạo bởi loạt ống xi phông (không nhỏ hơn hai ống), số lượng của chúng phụ thuộc vào lưu lượng tràn cần xả và kích thước của xi phông.6c là một ví dụ về tràn kiểu xi phông của bể áp lực, khi mực nước trong bể áp lực dâng đến cao trình nhất định (đỉnh ngưỡng tràn xi phông) nước tự động chảy qua tràn và xi phông nhanh chóng tăng lưu lượng đến trị số tương ứng với độ chân không ở trong nó. Khi các ngưỡng của xi phông được bố trí theo bậc chênh lệch nhau về cao độ, chúng cho phép loại bỏ sóng trong bể áp lực 9 khi xả nước. Do có nhiều ưu điểm nên các công trình xả nước của bể áp lực thường bố trí kiểu tràn xi phông.
Các công trình xả nước có cửa van tuy đắt nhưng chúng có kích thước mặt bằng nhỏ, tiện lợi cho việc bố trí trong bể áp lực, đồng thời nó cho phép khống chế mực nước dao động trong bể áp lực trong phạm vi nhỏ, ngoài ra chúng còn cho phép nhanh chống cung cấp lưu lượng cần thiết cho hạ lưu. Ngoài công dụng xả nước, các công trình xả nước nhiều cửa van còn kết hợp để xói rửa bùn cát trong trường hợp chúng được làm dưới dạng cống xả đáy.6 Các công trình xả nước của bể áp lực a- Tràn xả nước kiểu máng đơn; b- Tràn xả nước kiểu nhiều máng; c- Xi phông xả nước; 1- Khoang trước; 2- Kênh nối bể áp lực và bể điều tiết ngày; 3- Máng tràn xả nước; 4- Tường áp lực; 5- Tràn dạng cong; 6- Cửa lấy nước; 7- Tràn kiểu nhiều máng; 8- Dốc nước; 9- Cơ cấu điều chỉnh lưu lượng Việc lựa chọn hình thức công trình xả nước phải trên cơ sở so sánh kinh tế - kĩ thuật. Kinh nghiệm thiết kế cho thấy tốt hơn cả là sử dụng các sơ đồ xả hỗn hợp, nghĩa là trong bể áp lực có thể sử dụng đồng thời một số hình thức công trình xả khác nhau (chẳng hạn tràn không cửa van kết hợp với công trình xả có cửa van đóng mở tự động). 10 Phần dẫn nước của các công trình xả nước thường sử dụng dưới dạng dốc nước với các hình thức tiêu năng sau nó dạng bể, tường tiêu năng hoặc máng phun v.
Trong trường hợp lưu lượng nhỏ còn có thể sử dụng dưới dạng bậc nước.4 Các thành phần khác của công trình Ngoài các bộ phận chính là cửa lấy nước, khoang trước, công trình xả nước, trong bể áp lực còn được bố trí cửa xả cát, cống tháo nước sửa chữa, cửa lấy nước tưới và cấp nước cho các mục đích khác nhau. Lưu tốc trong bể áp lực nhỏ, vì vậy nó đóng vai trò như một bể lắng cát phụ, để tháo rửa cát lắng đọng trong bể áp lực người ta thường sử dụng các hành lang tháo cát có cửa van, cửa vào chúng đặt ở đáy bể áp lực giống như ở bể lắng cát hoặc cửa lấy nước không áp. Khác với bể lắng cát, cửa xả cát của bể áp lực xói rửa cát trong điều kiện trạm thuỷ điện đang làm việc bình thường, nước trong bể áp lực còn đầy nên không thể tạo được vận tốc lớn để đủ sức xói rửa bùn cát lắng đọng một cách triệt để. Trong thực tế hiệu quả của các hành lang xói rửa cát bố trí ở bể áp lực không lớn, do vậy tốt hơn hết là việc nạo vét bùn cát lắng đọng có thể kết hợp thực hiện bằng các phương pháp cơ giới như bơm hút bùn v.
Ở bể áp lực người ta cố gắng bố trí các công trình xả nước và xả cát có chung bộ phận dẫn nước. Kích thước hành lang xả cát cần đủ lớn để có thể tiến hành kiểm tra và sửa chữa. Khi tiến hành xói rửa bể áp lực, vận tốc dòng nước trong nó (trong khoang trước) không nhỏ hơn 2÷2,5 m/s.