Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống thủy nông Bắc Đuống giữ vai trò huyết mạch trong việc bảo đảm an ninh lương thực và cấp nước cho vùng đồng bằng Bắc Bộ, quản lý tổng diện tích tự nhiên 53.212,3 ha (khoảng 532 km2) với quy mô dân số hơn 739.329 người. Nguồn nước cấp cho hệ thống phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước mặt sông Đuống (chiếm 70%) và sông Cầu (chiếm 30%). Trong đó, sông Đuống là phân lưu tự nhiên quan trọng nhất của sông Hồng, chuyển tải hàng năm khoảng 29 tỷ m3 nước sang hệ thống sông Thái Bình, tương đương 25,7% tổng lượng dòng chảy sông Hồng tính đến trạm Sơn Tây.

Tuy nhiên, sự kết hợp giữa biến đổi khí hậu toàn cầu và quy trình vận hành tích nước của các nhà máy thủy điện lớn ở thượng lưu (như Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang) đã làm dòng chảy hạ du sông Hồng suy thoái khốc liệt. Mực nước sông Hồng tại trạm Hà Nội trong tháng 1 các năm 2004 và 2005 liên tiếp xuống mức thấp kỷ lục lịch sử, chỉ đạt lần lượt +1,75 m và +1,50 m. Mực nước sông Đuống tại Long Tửu vào tháng 12 năm 2008 hạ xuống 2,71 m, thấp hơn trung bình nhiều năm tới 1,12 m. Tình trạng này khiến các công trình đầu mối xây dựng từ năm 1962 bị tê liệt, hiệu suất lấy nước toàn hệ thống tụt giảm còn khoảng 40% so với thiết kế 44.898 ha.

Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán cân bằng nước, phân tích các điểm nghẽn kỹ thuật và đề xuất tổ hợp giải pháp công trình kết hợp phi công trình đồng bộ. Mục tiêu trọng tâm là phục hồi năng lực cấp nước mặt, bảo đảm tưới chắc cho hơn 27.724 ha đất canh tác nông nghiệp, đồng thời đáp ứng nhu cầu gia tăng nhanh chóng của các khu công nghiệp và đô thị hóa tại Bắc Ninh và Hà Nội đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn ứng dụng lý thuyết cân bằng nước hệ thống (Water Balance Theory) kết hợp nguyên lý quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM). Khung lý thuyết này phân tích mối tương quan giữa tổng lượng dòng chảy đến tự nhiên, dung tích trữ của mạng lưới sông ngòi nội đồng và tổng nhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế theo chu kỳ mùa vụ.

Mô hình tính toán nhu cầu nước cho cây trồng dựa trên phương pháp Penman-Monteith theo tiêu chuẩn của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), tích hợp công cụ CROPWAT và mô hình SWI. Mô hình cho phép mô phỏng quá trình bốc thoát hơi nước tham chiếu (ETo), tính toán hệ số cây trồng (Kc) theo từng thời kỳ sinh trưởng và xác định mức tưới thiết kế với tần suất bảo đảm 85%.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ các khái niệm then chốt gồm: dòng chảy kiệt, hệ số sử dụng nước của hệ thống kênh mương, lưu lượng đỉnh lũ và chế độ tưới tiết kiệm Nông - Lộ - Phơi. Chế độ tưới này chứng minh khả năng cắt giảm từ 25% đến 54% lượng nước tưới mặt ruộng nhờ tận dụng tối đa lượng mưa hiệu quả.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu quan trắc dài hạn với cỡ mẫu toàn diện từ 9 trạm khí tượng (như Bắc Ninh, Hà Nội, Vĩnh Yên, Phú Hộ) và 9 trạm thủy văn quốc gia (như Thượng Cát, Hà Nội, Bến Hồ, Đáp Cầu, Phúc Lộc Phương). Chuỗi dữ liệu thu thập liên tục trong hơn 50 năm (từ 1957 đến 2009), bảo đảm tính đại diện cao cho toàn bộ lưu vực 532 km2.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng theo nguyên tắc chọn mẫu đại diện không gian và đồng nhất theo thời gian. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ đặc thù địa hình lòng chảo sông Ngũ Huyện Khê và tính chất phân bố mưa không đều theo mùa tại vùng Bắc Đuống.

Phương pháp phân tích thống kê thủy văn kết hợp mô hình hóa toán học được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác lượng nước thiếu hụt trong các tháng kiệt nhất (từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau). Phương pháp này giúp mô phỏng chính xác các kịch bản cấp nước đa mục tiêu trong điều kiện mực nước sông hạ thấp, tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc để đánh giá các phương án công trình trong giai đoạn 2009–2011 và dự báo đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nguồn nước mặt trên các sông chính bao quanh hệ thống bị suy giảm nghiêm trọng trong mùa kiệt. Tổng lượng dòng chảy trong 7 tháng mùa kiệt chỉ chiếm từ 20% đến 30% tổng lượng cả năm. Đáng chú ý, các tháng II, III và IV chỉ chiếm khoảng 2% đến 3% tổng lượng dòng chảy năm. Lưu lượng kiệt nhất ghi nhận tại trạm Thượng Cát trên sông Đuống giảm sâu xuống 25,5 m3/s. Tổng lượng mưa mùa khô của vùng nghiên cứu thường xuyên thiếu hụt từ 25% đến 45% so với mức trung bình nhiều năm.

Thứ hai, công trình đầu mối bị suy giảm nghiêm trọng về công suất khai thác thực tế. Toàn hệ thống có 40 trạm bơm phục vụ tưới với tổng lưu lượng thiết kế hơn 197.000 m3/h. Tuy nhiên, khu vực lấy nước sông Đuống chỉ phục vụ thực tế được 15.240 ha trên 35.527 ha diện tích thiết kế (đạt 42,9%). Tương tự, khu vực lấy nước sông Cầu chỉ đạt 4.743 ha trên 9.371 ha thiết kế (đạt 50,6%). Hiệu suất phục vụ chung của toàn hệ thống chỉ đạt khoảng 40%.

Thứ ba, hệ thống dẫn và phân phối nước xuống cấp gây tổn thất tài nguyên lớn. Mạng lưới kênh cấp II có tổng chiều dài 250,9 km nhưng mới chỉ kiên cố hóa được 64,36 km (tương đương 25,65%), còn lại 186,54 km là kênh đất chưa được gia cố. Tình trạng rò rỉ, bồi lắng và xả thải gây ách tắc làm giảm đáng kể hệ số lợi dụng nước.

Thứ tư, tình trạng hạn hán cục bộ diễn ra gay gắt và phân bổ không đều. Hàng năm, diện tích canh tác bị hạn tại huyện Yên Phong lên tới 982 ha, huyện Tiên Du 465 ha, thành phố Bắc Ninh 268 ha, huyện Quế Võ 110 ha và huyện Đông Anh 110 ha, chủ yếu do hiện tượng đầu kênh thừa nước nhưng cuối kênh lại thiếu nước trầm trọng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng tê liệt hệ thống là do hạ thấp mực nước lòng dẫn sông Đuống và sông Hồng. Đáy sông bị xói sâu kết hợp cùng các đợt tích nước phát điện của hồ chứa thượng nguồn khiến mực nước mùa kiệt thường xuyên nằm dưới cao trình đáy bể hút (+0,00 m) và mực nước tối thiểu (+1,41 m) của trạm bơm đầu mối Trịnh Xá (với 8 tổ máy OП-4-84).

Khi so sánh với các nghiên cứu của các chuyên gia thủy lợi hàng đầu tại đồng bằng sông Hồng, kết quả của luận văn đã khẳng định tính chính xác của xu thế tụt thấp mực nước hạ du. Đồng thời, nghiên cứu chứng minh việc ứng dụng kỹ thuật tưới Nông - Lộ - Phơi có thể giúp hệ thống giảm từ 25% đến 54% định mức tưới cho cây lúa nước.

Để phục vụ công tác quản lý trực quan, các dữ liệu tính toán đã được chuyển hóa thành bảng cân bằng tổng lượng nước theo 4 kịch bản phát triển đến năm 2020 và biểu đồ phân phối dòng chảy kiệt theo tháng tại trạm Thượng Cát. Mô hình trực quan này phản ánh rõ nét mối tương quan giữa mực nước thực tế ngoài sông và ngưỡng vận hành hiệu quả của các trạm bơm, cung cấp cơ sở tin cậy cho việc điều phối nguồn nước liên tỉnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Nâng cấp và cải tạo công trình đầu mối lấy nước: Tiến hành hạ thấp cao trình đáy bể hút, nạo vét 12 km kênh dẫn Long Tửu, lắp đặt bổ sung các trạm bơm dã chiến và thay thế tổ máy bơm có dải làm việc thích ứng với mực nước thấp tại trạm bơm Trịnh Xá. Mục tiêu nhằm nâng khả năng lấy nước thêm từ 20% đến 30% khi mực nước sông Đuống xuống dưới ngưỡng +2,20 m. Thời gian thực hiện từ năm 2012 đến 2015, do Công ty Khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh chủ trì.

Kiên cố hóa đồng bộ hệ thống kênh mương và công trình trên kênh: Cứng hóa hoàn thiện 186,54 km kênh cấp II bằng bê tông đúc sẵn, sửa chữa và thay thế cánh van của 81 cống điều tiết trên tuyến kênh chính Bắc và Nam Trịnh Xá (dài 91,5 km). Mục tiêu nhằm tăng hệ số sử dụng nước của toàn hệ thống từ 0,65 lên 0,85 vào năm 2018. Đơn vị thực hiện là Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Ninh.

Ứng dụng chuyển đổi công nghệ tưới Nông - Lộ - Phơi diện rộng: Áp dụng quy trình tưới ướt khô xen kẽ cho toàn bộ 25.450 ha lúa vụ Đông Xuân và 25.332 ha lúa vụ Mùa. Mục tiêu giúp cắt giảm từ 30% đến 40% định mức nước tưới mặt ruộng hàng năm. Thời gian triển khai liên tục từ năm 2012, do Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cùng các Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp thực hiện.

Hoàn thiện quy trình điều hành xả nước và số hóa quản lý phân phối: Thiết lập cơ chế phối hợp vận hành linh hoạt giữa các hồ chứa thủy điện thượng lưu với các đợt lấy nước tập trung đổ ải; lắp đặt thiết bị đo lưu lượng tự động trên các tuyến kênh trục chính. Mục tiêu nhằm giảm 100% thời gian chờ nước tĩnh và hạn chế lãng phí xả tràn. Thời gian hoàn thiện từ năm 2012 đến 2016, dưới sự điều phối của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các đơn vị thủy nông lưu vực sông Đuống.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và sở ban ngành: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh và thành phố Hà Nội có thể sử dụng bộ dữ liệu cân bằng nước và phương pháp quy hoạch để xây dựng kế hoạch quản lý tài nguyên nước mặt tổng thể giai đoạn 2015–2020 định hướng 2030 cho diện tích 532 km2.

Doanh nghiệp khai thác công trình thủy nông: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống và các đơn vị lân cận có thể ứng dụng trực tiếp quy trình vận hành trạm bơm thích ứng mực nước thấp và biểu đồ đóng mở 81 cống phân phối trên hệ thống kênh chính để nâng cao hiệu suất phân phối nước.

Viện nghiên cứu, giảng viên và sinh viên kỹ thuật: Các nhà nghiên cứu và học viên thuộc chuyên ngành Kỹ thuật Tài nguyên nước, Thủy lợi có thể tham khảo mô hình tính toán CROPWAT/SWI cùng chuỗi số liệu quan trắc thủy văn hơn 50 năm để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về tác động của biến đổi khí hậu lên đồng bằng Bắc Bộ.

Ban quản trị hợp tác xã và chính quyền địa phương: Lãnh đạo cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp tại Bắc Ninh, Đông Anh, Gia Lâm có thể sử dụng hướng dẫn tưới tiết kiệm Nông - Lộ - Phơi để tuyên truyền, điều phối lịch tưới nội đồng, bảo đảm an toàn mùa vụ cho 27.724 ha đất canh tác.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao hệ thống thủy nông Bắc Đuống bị thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô dù nằm cạnh các sông lớn? Sông Đuống chuyển tải 29 tỷ m3 nước hàng năm nhưng lưu lượng mùa cạn chỉ chiếm 2% đến 3% cả năm. Việc các hồ chứa thủy điện thượng lưu tích nước kết hợp đáy sông Hồng bị hạ thấp kỷ lục (xuống +1,50 m năm 2005) khiến mực nước tại cống Long Tửu giảm 1,12 m, làm vô hiệu hóa khả năng lấy nước tự chảy của hệ thống.

Hiệu suất phục vụ thực tế của các trạm bơm trong vùng hiện đạt bao nhiêu so với thiết kế? Hiệu suất cấp nước toàn hệ thống hiện chỉ đạt khoảng 40% so với thiết kế ban đầu. Trong đó, 10 trạm bơm do công ty quản lý tại khu vực sông Đuống chỉ tưới được 15.240 ha trên tổng số 35.527 ha thiết kế (đạt 42,9%), do công trình đầu mối xây dựng từ năm 1964 đã xuống cấp và mực nước sông ngoài hạ thấp.

Giải pháp công trình nào mang tính cấp thiết hàng đầu cho hệ thống Bắc Đuống? Giải pháp cấp thiết nhất là nạo vét 12 km kênh dẫn Long Tửu, hạ thấp đáy bể hút trạm bơm Trịnh Xá và kiên cố hóa 186,54 km kênh cấp II còn là kênh đất. Các biện pháp này giúp bảo đảm trạm bơm vận hành an toàn ngay cả khi mực nước sông Đuống xuống dưới ngưỡng +2,20 m và giảm tối đa tổn thất thấm lọc.

Kỹ thuật tưới Nông - Lộ - Phơi mang lại hiệu quả tiết kiệm nước thực tế ra sao? Quy trình tưới Nông - Lộ - Phơi giúp tận dụng tối đa lượng mưa và chỉ duy trì lớp nước nông theo từng chu kỳ phát triển của cây lúa. Trong thực tế tính toán, giải pháp này giúp cắt giảm từ 25% đến 54% lượng nước tưới mặt ruộng cho cả 25.450 ha lúa Đông Xuân và 25.332 ha lúa Mùa mà vẫn duy trì năng suất lúa ổn định 10 tấn/ha.

Nhu cầu sử dụng nước của vùng nghiên cứu thay đổi như thế nào trong định hướng đến năm 2020? Đến năm 2020, diện tích đất nông nghiệp dự kiến giảm từ 30.748 ha xuống 21.672 ha, nhưng nhu cầu cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt tăng gấp 2,5 lần do tỷ lệ đô thị hóa đạt 45% với dân số hơn 1,12 triệu người. Hệ thống thủy nông bắt buộc phải chuyển đổi từ tưới thuần túy sang cấp nước đa mục tiêu.

Kết luận

  • Luận văn đánh giá toàn diện thực trạng suy giảm dòng chảy mặt sông Hồng - sông Đuống và sự sụt giảm nghiêm trọng của hiệu suất lấy nước hệ thống Bắc Đuống xuống chỉ còn khoảng 40%.
  • Thiết lập khung phương pháp luận khoa học, ứng dụng thành công mô hình CROPWAT/SWI và phân tích cân bằng nước dựa trên chuỗi dữ liệu thực nghiệm hơn 50 năm (1957–2009).
  • Đề xuất giải pháp công trình then chốt gồm nạo vét kênh dẫn Long Tửu, hạ thấp cao trình bể hút trạm bơm Trịnh Xá và bê tông hóa 186,54 km kênh cấp II.
  • Xác lập hiệu quả vượt trội của giải pháp phi công trình qua kỹ thuật tưới Nông - Lộ - Phơi, giúp tiết kiệm từ 25% đến 54% tổng lượng nước cấp cho nông nghiệp.
  • Hoàn thiện định hướng quy hoạch chuyển đổi hệ thống thủy nông Bắc Đuống sang phương thức phục vụ đa mục tiêu, thích ứng với tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa đến năm 2020.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học và hệ thống giải pháp kỹ thuật có tính thực tiễn cao, giúp giải quyết triệt để bài toán thiếu hụt nước mặt vùng hạ du sông Hồng. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2012 đến 2015, các đơn vị quản lý cần khẩn trương triển khai thí điểm cải tạo công trình đầu mối và mở rộng quy trình tưới tiết kiệm trên toàn bộ 27.724 ha đất canh tác. Các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp khai thác thủy nông và chính quyền địa phương hãy nhanh chóng ứng dụng kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn quy hoạch để bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế bền vững cho toàn vùng.