CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÂY HỒ TIÊU 1. Cây hồ tiêu ( Piper nigrum L. ) Cây hồ tiêu hay (còn gọi là cây tiêu) có tên khoa học là Piper nigrum L., thuộc họ Piperaceae, bộ Piperales.
Loại cây này nguồn gốc mọc hoang dại trong rừng ở phía Tây vùng Ghats, thuộc miền Nam Ấn Độ [1], [2], [3], [4]. Họ hồ tiêu (Piperaceae) gồm những loài cây thân cỏ đứng hoặc leo bò trên vách đá hay bám trên các cây thân gỗ khác nhờ rễ bám. Thân cây hồ tiêu có cấu tạo gồm nhiều bó mạch libe mộc, có kích thước khá lớn nên có khả năng vận chuyển nước và muối khoáng từ đất lên rất mạnh, do vậy khi thiếu nước hoặc bị nấm bệnh… thì cây hồ tiêu héo rất nhanh [2]. Lá hồ tiêu có kích thước: dài 10 - 25cm, rộng 5 - 10cm tuỳ thuộc vào giống [3].
Ở nách lá có mầm ngủ, từ các mầm ngủ này có thể phát sinh thành các cành lươn, cành vượt (cành tược) hoặc cành quả hay còn gọi cành ác (cành cho trái), tuỳ từng giai đoạn phát triển của cây. Cành tược nếu được buộc vào trụ thì sau sẽ trở thành thân chính [5], song nếu không được buộc nó sẽ vươn dài, treo lơ lửng và trở thành dây ăn hại vì thế cần phải tỉa bỏ hoặc có thể dùng để nhân giống rất là tốt. Các loài phổ biến được sử dụng nhiều trong đời sống hàng ngày có cây hồ tiêu, lá lốt, rau càng cua, cây trầu không, nhưng có giá trị nhất là cây hồ tiêu. Từ thế kỷ XIII, hồ tiêu đã được canh tác và sử dụng rộng rãi trong bữa ăn hàng ngày.
Trong nhiều năm, Ấn Độ là nước trồng tiêu nhiều nhất thế giới, tập trung ở bang Kerela và Mysore. Sau đó, cây tiêu được trồng phổ biến sang nhiều nước khác ở Đông Nam Á và Nam Á như Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Srilanka. Luan van 5 Ở Đông Dương, cây tiêu mọc hoang dại được tìm thấy từ trước thế kỷ XVI nhưng đến thế kỷ XIX mới được canh tác tương đối qui mô ở vùng Hà Tiên - Việt Nam và vùng Kampot – Campuchia. Từ cuối thế kỷ XIX, cây tiêu bắt đầu được phổ biến sang trồng ở châu Phi, châu Mỹ, Madagascar, Brazil là các nước có diện tích và sản lượng hồ tiêu đáng kể.
Điều kiện sinh thái của cây tiêu Theo các tài liệu nghiên cứu trước đây cho thấy, cây hồ tiêu có nguồn gốc ở nhiệt đới, do vậy yêu cầu nhiệt độ trong suốt thời gian sinh trưởng tương đối cao. Cây hồ tiêu có thể trồng được ở khu vực 20 độ vĩ Bắc đến 20 độ vĩ Nam, nơi có nhiệt độ từ 25 – 35°C [2], [5], [6], [7]. Nhiệt độ thích hợp cho cây tiêu từ 18 - 27°C. Khi nhiệt độ không khí cao hơn 40°C và thấp hơn 10°C đều ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng cây tiêu.
Cây tiêu sẽ ngừng sinh trưởng ở nhiệt độ 15°C kéo dài. Nhiệt độ 6 - 10°C trong thời gian ngắn làm nám lá non, sau đó lá trên cây bắt đầu rụng. Cây tiêu ưa thích điều kiện khí hậu nóng ẩm. Lượng mưa trong năm cần từ 1500 – 2500mm phân bố tương đối điều hòa.
Lượng mưa thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây hồ tiêu là từ 1000 - 3000mm, phân bố đều trong 9 tháng/năm và mùa khô nhưng không quá 3 tháng (giai đoạn này hồ tiêu chín và để ra hoa tập trung) [6]. Tiêu cũng cần một giai đoạn hạn tương đối ngắn sau vụ thu hoạch để phân hóa mầm hoa tốt và ra hoa đồng loạt vào mùa mưa năm sau. Cây tiêu cần ẩm độ không khí lớn từ 70 – 90%, nhất là vào thời kỳ ra hoa. Độ ẩm cao làm hạt phấn dễ dính vào nuốm nhị và làm cho thời gian thụ phấn kéo dài do nuốm nhị trương to khi có độ ẩm.
Tuy vậy cây tiêu rất kỵ mưa lớn làm đọng nước ở rễ gây úng. Luan van 6 Cây hồ tiêu nguyên thuỷ là một loại cây mọc dưới tán lá rừng, đó là loại cây thích bóng rợp ở một mức độ nhất định khi trồng xen với cây khác. Hồ tiêu cần được che bóng trong 1 - 2 năm đầu, trong điều kiện trồng thuần cần che bóng nhẹ cho cây hồ tiêu, nhất là khi trồng với trụ chết bằng cột đúc bê tông hay trụ xây bằng gạch [2], [5], [6], [7]. Trong giai đoạn cây con cần che bóng rợp cho tiêu, còn trong giai đoạn trưởng thành thì cây tiêu phát triển xum xuê nên tự che bóng cho nhau.
Đối với cây choái sống cần chú ý rong tỉa tán che của cây choái hợp lý để cung cấp đầy đủ ánh sáng cho vườn tiêu. Cây tiêu ưa thích môi trường lặng gió, hoặc gió nhẹ. Gió nóng, gió lạnh, bão đều không hợp với cây tiêu. Do vậy khi trồng tiêu tại những vùng có gió lớn, việc thiết lập các hệ đai rừng chắn gió cho cây tiêu là điều không thể thiếu được.
Cây tiêu trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như đất đỏ phát triển trên đá bazan, đất đỏ vàng phát triển trên sa phiến thạch, diệp thạch, đất cát xám trên đá granit, đất phù sa, đất sét pha cát. miễn là đạt các yêu cầu cơ bản sau. + Đất dễ thoát nước, có độ dốc dưới 5%, không bị úng ngập dù chỉ úng ngập tạm thời trong vòng 24 giờ. + Tầng canh tác dày trên 70cm, mạch nước ngầm sâu hơn 2m.
+ Đất giàu mùn, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, pHKCl từ 5 - 6. Tuy nhiên một loại đất thích hợp cho việc trồng hồ tiêu phải là đất có tầng mặt dày (độ dày tầng canh tác > 60cm); có mạch nước ngầm phải sâu trên 2m; đất tơi xốp, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình có khả năng thấm và thoát nước tốt, tránh bị úng ngập trong mùa mưa; đất có nhiều chất hữu cơ (hữu cơ > 2,0%) và giàu dinh dưỡng (Nts > 0,15%), hàm Luan van 7 lượng kali và magiê khá, CEC ở mức 20 - 30meq/100g; đất có phản ứng từ chua đến trung tính (pH= 4,5 - 6,5) và cây hồ tiêu không chịu được độ mặn 0,3% [2], [5], [6], [7]. Hồ tiêu thích hợp trên đất tơi xốp, giàu mùn và dinh dưỡng, có khả năng thoát nước tốt, khả năng giữ ẩm cao. Hồ tiêu chủ yếu trồng thuần trên đất thịt trong rừng có hàm lượng hữu cơ, N và K cao, lân và độ bão hòa bazo ở mức trung bình.
Trên đất vườn nhà thường được trồng xen với cây dừa, cau trên đất thịt đỏ hoặc đất đá ong thường có độ chua pH từ 5 – 6,2. Trên đất đá ong, thông thường hàm lượng hữu cơ, các chất dinh dưỡng như kali thấp và cation trao đổi thấp và Fe, Al cao dễ cố định P và khả năng giữ nước kém. Đạm thường mất do thấm sâu ở những vùng có lượng mưa cao. Thiếu vi lượng cũng thường phổ biến ở những vùng này.
Nhu cầu dinh dưỡng của cây hồ tiêu Cây trồng cần dinh dưỡng để sinh trưởng, phát triển và cho năng suất. Cây hút chất dinh dưỡng có sẵn trong đất, ngoài ra cần phải được cung cấp thêm qua phân bón để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cây. Cây cần 3 yếu tố dinh dưỡng chính là đạm, lân, kali và một số các chất khác như canxi, magie, lưu huỳnh, kẽm, đồng, mangan, bo v. Vai trò của đạm đối với cây tiêu Trong cây, đạm tham gia vào các thành phần diệp lục cơ quan quang hợp của cây axit amin, protein, ancaloit và các hợp chất khác.
Đạm có vai trò chủ yếu trong việc kích thích sự tăng trưởng của cây tiêu, giúp cây đâm nhiều chồi, nhánh, cành quả, làm cho lá có màu xanh đậm. Ngoài ra chất đạm còn góp phần cho cây tiêu ra nhiều hoa, tăng kích thước và độ chứa protein của trái tiêu. Luan van 8 Trong đất, đạm tồn tại ở 3 dạng chính: đạm vô cơ, đạm hữu cơ dễ phân giải và đạm hữu cơ khó phân giải. Đạm tổng số trong đất bao gồm cả 3 dạng trên.
Đạm dễ tiêu trong đất giúp vi sinh vật phân giải đạm hoạt động mạnh hơn, nhờ vậy chất hữu cơ mau được khoáng hóa và trở nên hữu dụng cho tiêu. Cây hồ tiêu cần đạm suốt quá trình từ khi cây còn non đến lúc trưởng thành cho ra hoa quả [5], [6]. Chất đạm cần cho cây tiêu cả 2 giai đoạn kiến thiết cơ bản (cây non) và kinh doanh (cây trưởng thành cho thu hoạch). Nhu cầu đạm của cây tiêu phân bố đều trong năm do vậy phải bón đạm nhiều lần trong năm.
Hiện tượng thiếu đạm trên cây tiêu thể hiện cây sinh trưởng chậm lại, ít ra cành, chồi, lá trở nên xanh nhạt và vàng. Trước tiên các lá ở dưới thấp hóa vàng nhạt nhưng lá ở tầng trên của trụ tiêu vẫn còn giữ được màu xanh tương đối. Khi cây bị thiếu đạm nặng nề, toàn bộ lá của trụ tiêu có màu vàng tới màu vàng đậm đặc trưng và đầu ngọn lá bị khô chết. Lá rụng trong trường hợp cây bị ảnh hưởng thiếu đạm nghiêm trọng.
Tuy nhiên, bón quá nhiều đạm, cây hồ tiêu sẽ ra nhiều lá mà ít hoa quả, cây yếu khả năng chống chọi với sâu bệnh kém, cây hồ tiêu chậm cho thu hoạch, phẩm chất hạt giảm [6]. Vai trò của lân đối với cây tiêu Lân tham gia trong quá trình trao đổi chất, tích lũy hydrrat carbon, chất béo, protit. Cây tiêu hấp thu lân không nhiều nhưng lân cũng là một yếu tố không kém phần quan trọng. Ngoài ra lân còn giúp cho cây con ra rễ sớm và mạnh, nhờ nó mà cây hồ tiêu hấp thụ được nhiều chất dinh dưỡng khác và có khả năng chống hạn [6].
Đối với cây trưởng thành nguyên tố lân ảnh hưởng rõ đến sự sinh sản, giúp cây ra nhiều hoa, quá trình thụ phấn thụ tinh tốt. Cây tiêu cần lân nhiều vào giai đoạn cây non và đầu thời kỳ ra hoa. Luan van 9 Triệu chứng thiếu lân rõ ràng ít khi xuất hiện và rất khó nhận biết trên các vườn tiêu. Trong trường hợp nghiêm trọng thể hiện ở sự sinh trưởng còi cọc của cây.
Điều này không rõ lắm ở đỉnh sinh trưởng các dây thân, nhưng các cành ngang bị ảnh hưởng nặng nề hơn và cây rất ít ra cành ngang thứ cấp. Phiến lá của các lá trưởng thành trở nên xanh xám đục, chuyển sang màu đồng, dày cứng và thỉnh thoảng có các đốm chết ở đầu lá, sau đó lá bị rụng. Vai trò của kali đối với cây tiêu Kali tham gia vào hoạt tính của nhiều enzim, đóng vai trò to lớn trong quá trình tổng hợp protein và các chất hữu cơ trong cây. Cây tiêu hấp thu rất nhiều kali.