Giá trị thặng dư trong nền kinh tế chia sẻ: Báo cáo tổng kết và tài liệu tham khảo

Tài liệu chuyên sâu Giá trị thặng dư trong nền kinh tế chia sẻ: Tổng kết và phân tích, phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng vững chắc cho

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo Cáo Tổng Kết Tài Liệu Tham Khảo

2022

127
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN CÔNG NGHIỆP

1.1. Từ kinh tế hàng hóa giản đơn lên kinh tế tư bản chủ nghĩa

1.2. Các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản công nghiệp

1.3. Công trường thủ công

1.4. Đại công nghiệp cơ khí

1.5. Sản xuất giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản công nghiệp

1.6. Sự chuyển hóa của tiền thành tư bản

1.7. Sự chuyển hóa sức lao động thành hàng hóa

1.8. Quá trình sản xuất giá trị thặng dư

1.9. Những kết luận rút ra

2. CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ CHIA SẺ - CHỦ NGHĨA TƯ BẢN DỰA TRÊN ĐÁM ĐÔNG VÀ CÔNG NGHỆ

2.1. Vai trò của khoa học công nghệ trong việc sản xuất giá trị thặng dư đương đại và những tác động kinh tế - xã hội của nó

2.2. Nền kinh tế chia sẻ - chủ nghĩa tư bản dựa trên đám đông và công nghệ

2.3. Khái niệm và bản chất của nền kinh tế chia sẻ

2.4. Cơ hội và thách thức trong phát triển nền kinh tế chia sẻ

2.5. Một số mô hình của nền kinh tế chia sẻ hiện nay

2.6. Từ T - H - T’ đến H – T’ – H’ và giá trị thặng dư trong kinh tế chia sẻ

2.7. Sự chuyển hóa T- H – T’ sang H – T’ – H’

2.8. Sự khác biệt của kinh tế chia sẻ

2.9. Những kết luận rút ra về giá trị thặng dư trong nền kinh tế chia sẻ

2.10. Chủ nghĩa tư bản giám sát là hình thức biến tướng của kinh tế chia sẻ - chủ nghĩa tư bản dựa trên đám đông và công nghệ

3. CHƯƠNG 3: KINH TẾ CHIA SẺ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

3.1. Các mô hình kinh tế chia sẻ chính tại Việt Nam

3.2. Mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực vận tải trực tuyến

3.3. Mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực chia sẻ phòng ở

3.4. Mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực dịch vụ cho vay ngang hàng

3.5. Mô hình kinh tế chia sẻ trong một số lĩnh vực khác

3.6. Tác động của kinh tế chia sẻ tới nền kinh tế Việt Nam

3.6.1. Tác động tới huy động nguồn lực xã hội cho phát triển kinh tế

3.6.2. Tác động tới thúc đẩy kinh doanh, mở rộng và phát triển thị trường

3.6.3. Tác động tới thúc đẩy cạnh tranh và tăng tính minh bạch của thị trường

3.6.4. Tác động tới tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế

3.6.5. Tác động tới công tác đảm bảo độc lập, tự chủ và an ninh của nền kinh tế

3.6.6. Tác động về thuế và quản lý thuế

3.6.7. Tác động tới việc làm cho người lao động

3.6.8. Tác động tới quan hệ lao động trong nền kinh tế

3.6.9. Tác động tới sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường

3.6.10. Tác động tới thể chế quản lý nền kinh tế

3.7. Thành tựu và hạn chế của mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam

3.7.1. Thành tựu của kinh tế chia sẻ tại Việt Nam

3.7.2. Hạn chế của kinh tế chia sẻ tại Việt Nam

3.8. Kinh nghiệm từ một số quốc gia điển hình về kinh tế chia sẻ và những gợi ý chính sách cho Việt Nam

3.8.1. Kinh nghiệm từ một số quốc gia điển hình

3.8.2. Gợi ý chính sách quản lý và phát triển kinh tế chia sẻ ở Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về giá trị thặng dư trong nền kinh tế chia sẻ

Nền kinh tế chia sẻ (KTCS) đã trở thành một xu hướng nổi bật trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển của công nghệ thông tin. Giá trị thặng dư trong KTCS không chỉ phản ánh sự gia tăng giá trị mà còn là yếu tố then chốt trong việc hiểu rõ cơ chế hoạt động của nền kinh tế này. Theo nhiều nghiên cứu, KTCS tận dụng tài sản chung, từ đó tạo ra hiệu quả kinh tế cao hơn so với các mô hình kinh doanh truyền thống. Điều này cho phép người tiêu dùng và nhà sản xuất tương tác trực tiếp, giảm thiểu chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Những mô hình này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn có tác động tích cực đến môi trường thông qua việc giảm thiểu lãng phí tài nguyên. Như một nghiên cứu đã chỉ ra, "KTCS giúp tiết kiệm chi phí giao dịch và tối ưu hóa việc sử dụng tài sản, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế".

II. Các mô hình kinh tế chia sẻ và giá trị thặng dư

Các mô hình KTCS hiện nay rất đa dạng, bao gồm lĩnh vực vận tải, lưu trú, cho vay ngang hàng và nhiều lĩnh vực khác. Mỗi mô hình đều có cách thức tạo ra giá trị thặng dư riêng, từ việc tối ưu hóa tài sản chung đến tạo ra lợi ích cho người tiêu dùng. Ví dụ, trong lĩnh vực vận tải, các ứng dụng như Grab hay Uber đã tạo ra một nền tảng cho phép người tiêu dùng và tài xế kết nối trực tiếp, từ đó giảm thiểu chi phí dịch vụ. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng "Mô hình KTCS trong lĩnh vực vận tải không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn tạo ra giá trị thặng dư cho cả người tiêu dùng và nhà cung cấp dịch vụ". Tuy nhiên, các mô hình này cũng gặp phải thách thức về quy định pháp lý và cạnh tranh công bằng.

III. Tác động của nền kinh tế chia sẻ đến nền kinh tế Việt Nam

Nền kinh tế chia sẻ đã và đang có những tác động đáng kể đến nền kinh tế Việt Nam. Các mô hình KTCS đã góp phần làm gia tăng năng lực cạnh tranh, tạo ra việc làm và thúc đẩy phát triển thị trường. Theo một báo cáo, "KTCS đã giúp huy động nguồn lực xã hội cho phát triển kinh tế, đồng thời tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa". Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích, KTCS cũng đặt ra nhiều thách thức về quản lý thuế, an toàn lao động và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Cần có sự điều chỉnh chính sách hợp lý để đảm bảo rằng mô hình này phát triển bền vững và công bằng.

IV. Đề xuất chính sách và giải pháp phát triển kinh tế chia sẻ

Để phát triển KTCS một cách bền vững tại Việt Nam, cần có những chính sách hỗ trợ phù hợp. Chính phủ cần xây dựng khung pháp lý rõ ràng cho các hoạt động KTCS, đồng thời khuyến khích đổi mới sáng tạo và áp dụng công nghệ trong quản lý. Một chuyên gia đã nhấn mạnh rằng "Việc xây dựng chính sách hỗ trợ cho KTCS không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà còn thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số". Bên cạnh đó, cần có các chương trình đào tạo để nâng cao nhận thức về KTCS cho người tiêu dùng và doanh nghiệp, từ đó khai thác tối đa giá trị thặng dư mà mô hình này mang lại.

11/01/2025
Giá trị thặng dư trong nền kinh tế chia sẻ báo cáo tổng kết tài liệu tham khảo cung thị tuyết mai và nh ng kh

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề phân tích từ mô hình công thức chung của tư bản. Để tìm ra công thức chung của tư bản, cần phân biệt tiền là tiền thông thường với tiền là tư bản. Tiền thông thường vận động theo công thức H-T-H còn gọi là công thức lưu thông hàng hóa giản đơn. Ở đây T đóng vai trò là môi giới, trung gian trong việc trao đổi hàng hóa; mục đích của quá trình này là đổi một GTSD này lấy một GTSD khác và T bị tiêu mất đi.

Tiền là tư bản vận động theo công thức T-H-T’. Ở đây T là đồng tiền ứng trước, H chỉ là phương tiện để đổi lấy một giá trị lớn hơn giá trị ứng ra ban đầu, tức là T phải quay trở về lớm hơn T ứng trước. Cho nên công thức chung của tư bản là T-H-T’, trong đó T’ = T + t. Số tiền trội hơn (t) được Marx gọi là GTTD, ký hiệu là m.

Vậy m do đâu mà có? Có phải do lưu thông mà ra không? Cho rằng lưu thông có thể đẻ ra m là một sự đảo lộn khoa học, bởi vì trong lưu thông dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá cũng không tạo ra m. Vậy sự tăng lên của giá trị có thể diễn ra ở ngoài lưu thông được không? Ngoài lưu thông, T nằm im không thể tự lớn lên được. Vấn đề là người có tiền phải tìm thấy trên thị trường một thứ hàng hóa đặc biệt mà khi tiêu dùng nó thì sẽ tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. Theo lý luận giá trị lao động của Marx lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới.

Lao động trừu tượng là sự vận động của sức lao động. Vậy thứ hàng hóa đặc biệt chính là hàng hàng hóa sức lao động. Sự chuyển hóa sức lao động thành hàng hóa Chỉ đến CNTB, SLĐ mới trở thành hàng hóa. Để SLĐ trở thành hàng hóa phải có đủ 2 điều kiện sau: (i) Người lao động phải được tự do về thân thể, có quyền sở hữu SLĐ thì mới đem SLĐ đi bán được; (ii) Người lao động bị tước đoạt hết TLSX nên buộc phải bán SLĐ để sinh sống.

Là hàng hóa, SLĐ cũng có 2 thuộc tính: GTSD và GT. Giá trị SLĐ được xác định bởi tổng giá trị các yếu tố sau: (i) Các tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của người lao động; (ii) các tư liệu cần để thỏa mãn nhu cầu về văn hóa xã hội, phạm vi các nhu cầu này phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, vào điều kiện địa lý khí hậu và trình độ văn minh đã đạt được; (iii) các tư liệu cần thiết để nuôi sống một gia đình trung bình nhằm bổ sung thị trường SLĐ; (iv) các tư liệu để đào 16 tạo người lao động có một trình độ lành nghề nhất định. Như vậy giá trị SLĐ được xác định bởi giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết cho việc TSX SLĐ. Giá trị sử dụng SLĐ là ở chỗ khi tiêu dùng nó tức bắt công nhân lao động thì sẽ tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị SLĐ.

Hiệu số giữa hai đại lượng này là GTTD (m). Đây chính là chìa khoá chỉ rõ nguồn gốc của GTTD. Qúa trình sản xuất giá trị thặng dư Mục đích của sản xuất TBCN không phải là giá trị sử dụng, mà là giá trị, hơn nữa là GTTD. Quá trình sản xuất TBCN là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra GTTD.

Quá trình sản xuất trong chủ nghĩa tư bản có các đặc điểm: - Công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản, lao động của công nhân thuộc về nhà tư bản cũng như các yếu tố khác của sản xuất và được nhà tư bản sử dụng sao cho hiệu quả nhất. - Sản phẩm do lao động của công nhân làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản. Ví dụ quá trình sản xuất sợi của nhà tư bản. Một nhà tư bản kinh doanh trong lĩnh vực kéo sợi cần phải tổ chức quá trình lao động để công nhân chế biến 10 kg bông thành sợi.

Giả sử: - Giá trị của 10 kg bông biểu hiện thành tiền = 10$ - Hao mòn máy để chế biến 10 kg bông thành sợi = 2 $ - Thời gian dệt 10 kg bông thành 10kg sợi = 6 giờ - 1 giờ lao động người công nhân tạo ra giá trị mới là 0,5 $ - Giá trị SLĐ trong 1 ngày = 3 $ 1. Nếu ngày lao động chỉ là 6 giờ Sẽ có 10 kg bông được chế biến thành sợi. Giá trị 10 kg sợi = 10$ (gt của bông) + 2$ khấu hao máy + 3$ (gt mới) = 15$ Các khoản phải trang trải: - T mua bông: 10$ 17 - Lập quỹ khấu hao: 2$ - Lương công nhân: 3$ - Tổng cộng: 15$ Như vậy, chưa có được m tạo ra. Có 2 cách để tạo được m.

Hai cách sản xuất m Cách 1. Tăng thời gian 1 ngày lao động thành 12 giờ Sẽ có 20 kg bông được chế biến thành sợi. Giá trị 20 kg sợi = 15$ x 2 = 30$ Các khoản phải trang trải: - T mua bông: 20$ - Lập quỹ khấu hao: 4$ - Lương công nhân: 3$ - Tổng cộng: 27$ GTTD (thu nhập của nhà tư bản) = 30$ - 27$ = 3$ Cách 2. Tăng NSLĐ lên 2 lần Theo đó, lúc ban đầu, trong 6 giờ chỉ tạo được 10kg sợi, sau khi tăng NSLĐ lên 2 lần thì trong 6 giờ tạo được 20kg sợi.

Giá trị 20 kg sợi = 15$ x 2 = 30$ Các khoản phải trang trải: - T mua bông: 20$ - Lập quỹ khấu hao: 4$ - Lương công nhân: 3$ Tổng cộng: 27$ GTTD (thu nhập của nhà tư bản) = 30$ - 27$ = 3$ Tóm lại, trong cả 2 cách, m được tạo ra theo dạng: Chi phí sản xuất Giá trị của 20 kg sợi Tiền mua bông 20 USD Giá trị của bông chuyển 20 USD vào sợi Tiền hao mòn máy 4 USD Giá trị của máy chuyển 4 USD 18 vào sợi (nhờ lao động cụ thể) Tiền mua SLĐ trong 1 ngày 3 USD Giá trị mới do lao động 6 USD trừu tượng tạo ra trong 12 giờ Cộng 27 USD Cộng 30 USD Nhà tư bản đem bán 20kg sợi theo đúng giá trị là 30 USD, trừ chi phí 27 USD, có được GTTD là 3 USD. Mục đích của nhà tư bản đã đạt được. Những kết luận rút ra Từ việc xem xét quá trình sản xuất ra GTTD thông qua ví dụ trên, một số kết luận được rút ra bao gồm: Thứ nhất, về cơ cấu lượng giá trị hàng hóa. Giá trị của hàng hóa được sản xuất ra gồm có 2 phần: GT TLSX (GT cũ) 24 USD và GT mới 6 USD.

Phần GT mới này > GT SLĐ. Đó là vì đến CNTB, NSLĐ xã hội đã phát triển khá cao, công nhân chỉ cần một phần ngày lao động của mình đã tạo ra một lượng giá trị mới đủ để bù lại GT SLĐ, còn phần ngày lao động còn lại tạo ra GTTD cho nhà tư bản. GT mới do lao động của công nhân tạo ra gồm có: GT SLĐ + m. Vậy GTTD là một bộ phận của GT mới thừa ra ngoài GT SLĐ do người bán sức lao động (người lao động làm thuê tạo ra và thuộc về nhà tư bản (người mua hàng hoá sức lao động).

Thứ hai, ngày lao động của công nhân cũng chia làm hai phần: thời gian lao động cần thiết (còn gọi là thời gian lao động được trả công) là phần ngày lao động mà công nhân tạo ra một lượng GT mới ngang bằng với GT SLĐ + thời gian lao động thặng dư (còn gọi là thời gian lao động không công) là phần ngày LĐ còn lại mà công nhân tạo ra m và bị nhà tư bản chiếm không. Quá trình SX TBCN là một quá trình sản xuất có tính chất hai mặt: một mặt, là quá trình sản xuất ra GTSD mà bất kỳ xã hội nào cũng có; mặt khác, là quá trình sản xuất ra GT, song không chỉ là GT giản đơn chỉ đủ bù lại GT SLĐ, mà hơn thế nữa là một quá trình tăng thêm GT tức quá trình sản xuất ra m. Thứ ba, bản chất của tư bản, tư bản bất biến và tư bản khả biến. Theo Marx, tư bản là giá trị mang lại GTTD bằng cách bóc lột người lao động làm thuê; tư bản biểu hiện quan hệ sản xuất giữa nhà tư bản với người lao động làm thuê - một quan hệ như vậy quả thật không phải tự nhiên vĩnh viễn mà chỉ tồn tại trong một giai đoạn nhất định của lịch sử.

Trong quá trình sản xuất GTTD, các bộ phận tư bản khác nhau đóng vai trò khác 19 nhau. Bộ phận tư bản biểu hiện thàng GT TLSX (máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyên nhiên vật liệu) không thay đổi về lượng giá trị sau một quá trình sản xuất được Marx gọi là tư bản bất biến, ký hiệu là C. Bộ phận tư bản biểu hiện thành GT SLĐ có sự thay đổi lớn lên về lượng giá trị được Marx gọi là tư bản khả biến, ký hiệu là V. Do đó, giá trị hàng hóa có công thức như sau: GT = c + v + m.

Marx là người đầu tiên phân chia tư bản thành c và v nhằm vạch rõ thêm một bước thực chất bóc lột của tư bản ở chỗ: (i) nhờ có tư bản khả biến, nhà tư bản có quyền sử dụng SLĐ của công nhân làm thuê và làm cho GT lớn lên, còn tư bản bất biến chỉ là tiền đề vật chất cho GT lớn lên mà thôi; (ii) trên cơ sở đó, Marx đưa ra phạm trù tỷ suất GT thặng dư, ký hiệu là m’ = m/v x 100%. m’ vạch rõ chính xác trình độ bóc lột của tư bản và chỉ cho ta thấy rằng trong 1 ngày lao động, phần thời gian lao động không được trả công chiếm bao nhiêu % so với thời gian lao động được trả công. Thứ tư, hai phương pháp sản xuất ra m. Tỷ suất GTTD là tỷ số tính theo phần trăm giữa GTTD (m) và tư bản khả biến (v) tương ứng để sản xuất ra GTTD đó.

m’= m/v × 100% = t’/t × 100% m’: Tỷ suất GTTD t’: Thời gian lao động thặng dư. t : Thời gian lao động tất yếu. Tỷ suất GTTD cho biết trong tổng số giá trị mới do sức lao động tạo ra (v + m), nhà tư bản lấy đi bao nhiêu so với phần mà công nhân nhận được. Tỷ suất GTTD nói lên trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài báo "Giá trị thặng dư trong nền kinh tế chia sẻ: Báo cáo tổng kết và tài liệu tham khảo" do các tác giả từ Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh thực hiện, tập trung vào khái niệm giá trị thặng dư trong bối cảnh nền kinh tế chia sẻ. Bài viết phân tích cách mà các mô hình kinh doanh chia sẻ tạo ra giá trị gia tăng cho người tiêu dùng và doanh nghiệp, đồng thời nêu bật những thách thức và cơ hội mà nền kinh tế này mang lại. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức mà giá trị thặng dư có thể được tối ưu hóa trong các mô hình kinh doanh mới, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý trong lĩnh vực xây dựng và đầu tư, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ về quản lý xây dựng và đấu thầu hợp đồng cho công trình nông nghiệp tại Phú Thọ, nơi đề cập đến quản lý hợp đồng trong các dự án xây dựng. Ngoài ra, bài viết Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý dự án trong lĩnh vực xây dựng, có thể liên quan đến việc tối ưu hóa giá trị thặng dư trong các dự án chia sẻ. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ về quản trị chất lượng tại công ty nhựa đường Petrolimex sẽ là một nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến việc quản lý chất lượng và tối ưu hóa giá trị trong các doanh nghiệp.

Những bài viết này không chỉ mở rộng hiểu biết về giá trị thặng dư mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về quản lý và đầu tư trong các lĩnh vực liên quan.