Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ SỐNG 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu. Con người là sinh vật đặc biệt. Nét đặc biệt chỉ có ở con người là khả năng tự hỏi về mình.
Chính khả năng này phân biệt tồn tại người với các tồn tại sinh vật khác. Ngay từ khi xuất hiện ý thức, con người không ngừng tìm kiếm lời đáp cho các câu hỏi “Tôi là ai?” “Tại sao lại hiện diện?” “Để làm gì?” “Sẽ đi đâu?”. Tóm lại, đó là những câu hỏi về ý nghĩa, về giá trị của đời người. Nếu như hoạt động sống của con người được thúc đẩy bởi những điều mà khoa tâm lý học gọi là “động cơ” thì có thể nói, giá trị sống và định hướng giá trị sống là nền tảng để hình thành và duy trì động cơ ấy.
Từ rất sớm, con người thể hiện sự tìm tòi câu trả lời trong nghiên cứu triết học, đạo đức học. Như lời nhận định của Thái Duy Tuyên: "Từ thời cổ đại loài người đã thừa nhận hệ thống giá trị Chân, Thiện, Mỹ. Đến nay HTGT này, nhìn chung, vẫn được mọi người thừa nhận, tuy có sự khác nhau khá nhiều giữa các cộng đồng, quốc gia, dân tộc. HTGT của nho giáo là Nhân, Trí, Dũng.
Cùng với thời gian, khoa học tâm lý hình thành và phát triển đã giúp hiểu biết sâu hơn về cơ chế tâm lý của con người. Sự phát triển của Tâm lý học cung cấp nền tảng khoa học cho các hoạt động giáo dục, nhờ đó hoạt động giáo dục có thêm cơ sở để đi từ “kinh nghiệm chủ nghĩa” qua một khoa học độc lập. Những nghiên cứu ở nước ngoài. Trên thế giới có các công trình nghiên cứu: Những nghiên cứu và thực nghiệm của Makarenko: Thập niên thứ hai của thế kỷ 20, đất nước Liên Xô đứng trước tình trạng bất ổn về chính trị: tình hình phản cách mạng và sự can thiệp của nước ngoài.
Tình hình kinh tế của nước này cũng không mấy lạc quan: bị tàn phá bởi thiên tai; cái đói rét cứ đeo bám vào quần chúng 1 Luan van nhân dân. Cả hai yếu tố đó đã đưa đến một hậu quả nghiêm trọng: hàng ngàn trẻ em lang thang trên đường phố, bám vào các toa tàu, phá phách chợ búa, nạn mại dâm nghiêm trọng; Nhà tù đầy ắp thanh thiếu niên phạm pháp. Đứng trước hoàn cảnh như thế, Makarenko với một niềm tin vào điều tốt nơi con người và tinh thần của chiến sĩ cách mạng vô sản, đã lao vào trận chiến. Mục đích duy nhất của ông là giáo dục lại các thanh thiếu niên hư hỏng và phạm pháp để trả chúng lại tình trạng bình thường.
Nghĩa là hòa nhập với xã hội, làm việc và kiếm sống bằng sức lao động chân chính. Hơn thế ước mong của ông còn xa hơn, những con người do ông giáo dục sẽ trở thành những nhân tố tích cực của xã hội để xây dựng đất nước tiến lên theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Những tác phẩm: Bài Ca Sư Phạm, Ngọn Cờ Trên Đỉnh Tháp. là những bản đúc kết kinh nghiệm giáo dục thanh thiếu niên có hoàn cảnh đặc biệt của Makarenko.
Năm 1972 UNESCO đã thực hiện đề tài nghiên cứu : "Learning To Be, The World Of Educatin Today And Tomorrow" trên phạm vi toàn thế giới. Báo cáo gồm ba phần. Trong ba phần đó có chín chương. Phần một, trình bày về những phát hiện khi nghiên cứu về lịch sự giáo dục và xã hội trên bình diện thế giới.
Những phát hiện này ảnh hưởng trực tiếp đến việc giáo dục: cấu trúc xã hội, chuyển biến kinh tế của xã hội, nguồn đầu tư hợp lý cho nhân lực và nguyên liệu. Một phát hiện đáng ngạc nhiên: "Giáo dục tự nó không khắc phục các tệ nạn xã hội, xã hội cần phải phấn đấu để tăng khả năng kiểm soát vận mệnh của mình" [17, tr. Nội dung của phần hai trình bày những thách đố cho một nền giáo dục toàn cầu; những khám phá mới và những mục đích của việc giáo dục. Từ đó đưa ra hai vấn đề then chốt cơ bản: một nền triết lý cho giáo dục và ai là người sẽ thực hiện triết lý đó trong một xã hội.
Phần ba trình bày định hướng của giáo dục: hướng đến một xã hội hóa giáo dục; vai trò và chức năng của chiến lược giáo dục; những yếu tố của chiến lược hiện đại. Năm 1930, Tsunesaburo Makiguchi, một nhà cải cách giáo dục Nhật Bản đã cho xuất bản cuốn: "Giáo Dục Vì Cuộc Sống Sáng Tạo". Trong cuốn sách này, Makiguchi đề cập đến ba yếu tố quan trọng: Tính mục đích giáo dục phải xuất phát 2 Luan van từ nhu cầu cuộc sống; Giáo dục để con người đạt đến hạnh phúc; Giáo dục phát huy được tính sáng tạo; Và kiềng ba chân của nền giáo dục: gia đình- nhà trường - cộng đồng. Theo Makiguchi, hạnh phúc là yếu tố căn bản, là nguyên lý của hoạt động và suy tưởng của con người.
Hạnh phúc được xây dựng trên nền tảng là các giá trị đạo đức và sức khỏe. Một đời sống đức hạnh là nhân tố vững chắc để con người nếm cảm của niềm hạnh phúc nơi chính bản thân mình, và khi chung sống với những người xung quanh. Tsunesaburo Makiguchi cho rằng: cuộc sống của con người là một quá trình tạo ra giá trị và giáo dục cần phải hướng dẫn con người tới mục tiêu này. Sáng tạo theo cách lý giải của Tsunesaburo Makiguchi: "Con người không thể làm tăng hay giảm các lực lượng tử hay khối vật chất trong tự nhiên.
Tuy nhiên họ có thể điều khiển các lực lượng đó làm ra những cái mà họ thấy có giá trị đối với mình. Dù gọi đó là tính sáng tạo hay sự khám phá, thì cạnh tranh cứ có khả năng để đổi dạng của vật chất và định hướng nó theo ý ta để phục vụ lợi ích của nhân loại" [18, tr. Sáng tạo ra giá trị mà con người phải ưu tiên chọn lựa là làm cho chính mình trở nên trọn vẹn nhất và tạo ra lợi ích lớn nhất cho cộng đồng. Với Makiguchi, điều kiện và giải pháp quan trọng để sáng tạo ra giá trị là: đổi mới chương trình, giảm thời gian học ở trường, tăng cơ hội và thời gian tiếp xúc với đời sống cộng đồng, gia đình.
Chính khi giải quyết các vấn đề do cuộc sống đặt ra, HV sẽ học được cách sáng tạo giá trị cho cộng đồng và bản thân. Allport (1897-1967) đã nghiên cứu về nhân cách của con người thống qua những đặc điểm của con người. Ông phân loại con người thành ba nhóm: Nhóm đam mê quyền lực và tiền tài; nhóm trung hòa; nhóm thứ cấp. Trong đó nhóm trung hòa: những người thuộc nhóm này luôn xác định một khuynh hướng chủ đạo cho cuộc sống của họ như: sự trung thực, lòng tốt; Nhóm thứ cấp: người thuộc nhóm này chỉ có thể nhận thấy trong một số trường hợp.
Chẳng hạn thích hoặc không thích những người thân cận [29]. 3 Luan van Tháng 8 năm 2003, Bộ giáo dục của chính phủ Úc đã có một cuộc nghiên cứu toàn diện về các giá trị giáo dục, có nhan đề: "Values Education Study". Từ việc nghiên cứu tài liệu cho họ thấy việc giáo dục về giá trị có hai luồng tư tưởng trái chiều nhau: giáo dục cách thức hành sử và phát triển nhận thức. Theo lập trường của lý thuyết phát triển nhận thức thì những giá trị hoặc việc giáo dục đạo đức cần được đẩy mạnh thông qua sự phát triển của lý luận.
Chính vì thế lập trường này ủng hộ những phương pháp dạy học tình huống hành sử đạo đức để phát triển phán đoán luân lý và chọn lọc giá trị; Trong khi đó, lập trường của lý thuyết giáo dục cách thức hành xử lại cho rằng: nhà trường phải thể hiện nhiều hơn nữa vai trò của mình trong việc giảng dạy các giá trị sống của xã hội và làm cho người học hấp thụ một cách trực tiếp từ nội dung giảng dạy, thông thường chương trình giảng dạy được thiết kế một cách đặc biệt.Những nghiên cứu ở Việt Nam. Tại Việt Nam có các công trình nghiên cứu: Năm 2006-2008, Bùi Thái Hợp và nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài: "Đánh Giá Nhu cầu giáo dục của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt". Về mặt lý luận, nghiên cứu đã làm sáng tỏ các khái niệm công cụ như: trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhu cầu giáo dục, đánh giá nhu cầu giáo dục, trẻ em lao động sớm, trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em không nơi nương tựa. Bên cạnh việc xác định mô hình tổng hòa của hai tiếp cận chính: tiếp cận quyền và tiếp cận nhu cầu, nghiên cứu này đã đề xuất định hướng giải pháp giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
Năm 2009-2010 Nguyễn Dục Quang và nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài: “Tìm Hiểu Về Giáo Dục Đạo Đức Của Vài Nước Trên Thế Giới”. Về mặt lý luận nghiên cứu đã xác định khái niệm về đạo đức, giáo dục đạo đức. Đặc biệt hơn, nhóm nghiên cứu đã xác định 6 nhóm giá trị: (1) Nhóm giá trị trong quan hệ với bản thân; (2) Nhóm các giá trị trong quan hệ với người khác; (3) Nhóm giá trị trong quan hệ với công việc; (4) Nhóm các giá trị trong quan hệ với tổ quốc, với cộng đồng; (5) Nhóm giá trị trong quan hệ với nhân dân và các dân tộc trong khu vực, 4 Luan van trên thế giới; (6) Nhóm giá trị trong quan hệ với môi trường tự nhiên. Qua phân tích kinh nghiệm giáo dục HV của các nước như: Mỹ, Thái Lan; Nhật Bản, đề tài nghiên cứu đã rút ra một số bài học vận dụng vào Việt Nam: (1) Vấn đề đạo đức phải gắn với những đặc điểm văn hóa, với những đặc điểm phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; (2) Mục tiêu giáo dục đạo đức HV cần tập trung nhấn mạnh những điểm nào là cần thiết, nhưng phải gắn với mục tiêu giáo dục cấp học, với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội mà Đảng và nhà nước đề ra; (3) Giáo dục đạo đức HV được thực hiện qua nhiều con đường, cách thức, phương pháp cụ thể; (4) Sử dụng các phương tiện giáo dục đạo đức cũng là một vấn đề được các nhà nước quan tâm.
Năm 2009-2010, Vũ Minh Tuấn và nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài: "Nghiên Cứu Thực Trạng Giáo Dục Hành Vi Đạo Đức Cho HV Tiểu Học Qua Hoạt Động Ngoại Khóa". Về mặt lý luận đề tài đã xác định được khái niệm đạo đức, hành vi đạo đức, giáo dục hành vi đạo đức. Về mặt thực tiễn nghiên cứu đưa được những bằng chứng xác thực về mặt nhận thức của giáo viên đối với việc giáo dục hành vi đạo đức qua hoạt động ngoại khóa.