Chương I1. Một số vấn đề lý luận về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đông tín dụng tại tòa án; 6 Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại tòa án nhân dân về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng; Chương 3. Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án.
MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE DUONG SU LA CA NHAN TRONG VU AN TRANH CHAP HOP DONG TIN DUNG TAI TOA AN 1. Quan niệm về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng 1. Giải quyết tranh chấp hợp đồng tin dung tai toad dn và các yếu tô ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chap hợp đẳng tín dụng tại Toà án (i) Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án Thông thường thì hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng thông qua Tòa án được tiến hành mà việc áp dụng cơ chế thương lượng và hòa giải không còn có hiệu quả và các bên bên tranh chấp cũng không tự thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài thương mại. Việc tự giải quyết tranh chấp của các bên thường gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau và vì vậy sự cần thiết phải có sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thâm quyền mà phổ biến ở đây là Tòa án.
Mặt khác, khi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, quyết định trọng tài không có tính cưỡng chế cao như quyết định của Tòa án, việc thi hành quyết định trọng tài không phải lúc nào cũng trôi chảy, thuận lợi như thi hành bản án của Tòa mà phụ thuộc chủ yếu vào thiện chí và hợp tác giải quyết của các bên. Do đó, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng thông qua Tòa án là hình thức cuối cùng mà các bên lựa chọn để giải quyết khi tranh chấp không còn lựa chọn nào khác. Trong quá trình giải quyết các tranh chấp, Tòa án phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định, cụ thể đó là những nguyên tắc cơ bản, trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định; Trình tự, thủ tục khởi kiện; Trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại Tòa án, thi hành bản án, quyêt định của Tòa án; Quyên và nghĩa vụ của những người tiên hành tố tụng, người tham gia tô tụng cũng như của những cơ quan, tô chức, cá nhân có liên quan, đây chính là thủ tục tố tụng tại Tòa án. Hay nói cách khác, tố tụng Tòa án chính là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định dé giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng Tòa án.
Ở hầu hết các nước trên thế giới, thủ tục tố tụng Tòa án áp dụng cho các tranh chấp trong kinh doanh nói chung và giải quyết tranh chấp HĐTD nói riêng được dựa trên nền tang thủ tục tố tụng dân sự cùng với một số quy định đặc thù cho phù hợp với hoạt động kinh doanh, chăng hạn như về hội đồng xét xử, về thời gian của các trình tự tố tụng. Do vậy, ở các quốc gia này người ta không hình thành luật tố tụng riêng cho các tranh chấp hợp HĐTD mà chỉ có luật về tố tụng dân sự. Cụ thê như ở Cộng hòa Liên bang Đức, Luật tố tụng đối với các vụ án dân sự và thương mại được quy định thống nhất trong Bộ luật Tố tụng dân sự; ở Pháp, Anh và Mỹ các tranh chấp trong lĩnh vực HĐTD thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa án đều được áp dụng theo thủ tục tố tụng dân sự. Từ đó có thê nhận thấy, “Giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án được hiểu là việc giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ quyển và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay là tổ chức tín dụng và bên vay thông qua hoạt động của cơ quan tài phán nhà nước, nhân danh quyển lực của nhà nước đề đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả sức mạnh cưỡng chế”.
(ii) Các yếu tổ ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dung tai toa an Thứ nhất, sự hoàn thiện của các quy định pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng Một trong những yêu cầu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chính là sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Khi áp dụng pháp luật nói chung, áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về 9 hợp đồng tín dụng nói riêng tại Toà án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử phải áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự và hệ thống các văn bản pháp luật về nội dung cũng như các văn bản pháp luật khác có liên quan nhằm đưa ra bản án chính xác, đúng pháp luật, có hiệu quả và hiệu lực cao. Chính vì vậy, nếu hệ thống pháp luật có liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng không hoàn thiện, thì chất lượng áp dụng pháp luật sẽ không cao, thậm chí không thực hiện được. Vì vậy, để hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng tại Toà án đạt hiệu quả cao, đòi hỏi phải có sự đảm bảo về pháp lý, bao gồm sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định; Sự hoàn thiện của cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật.
Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định được thê hiện ở những tiêu chuẩn như tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính hiệu lực, hiệu quả và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật. Sự hoàn thiện của cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật biểu hiện thông qua các vấn đề cơ bản như các văn bản pháp luật có liên quan tới chức năng nhiệm vụ của Toà án nhân dân, các văn bản pháp luật về tố tụng dân sự, việc ban hành các văn bản chi tiết hướng dẫn thi hành pháp luật; Công tác tuyên truyền, phô biến, giáo dục pháp luật trong xã hội; Công tác tô chức và chất lượng hoạt động của cơ quan áp dụng pháp luật; Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp tham gia áp dụng pháp luật; Chất lượng của các văn bản áp dụng pháp luật. Ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân phụ thuộc không nhỏ vào công tác phô biến, tuyên truyền và giáo dục pháp luật cũng như chất lượng của pháp luật; Chất lượng của hoạt động thực hiện, áp dụng pháp luật. Điều này cho thấy có sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thì hoạt động áp dụng pháp luật mới đạt chất lượng cao.
Thứ hai, yếu to thực hiện pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng 10 Về phía bên cho vay: Bên cho vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân cho khách hàng như đã cam kết. Các tô chức tín dụng không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ tín dụng và điều kiện cho vay. Nhiều tổ chức cho vay không tiến hành quy trình thâm định theo nguyên tắc 6cs, điều mà định chế tài chính quốc tế luôn cảnh báo là: 6cs tính cách người vay (character), năng lực trả ng (capacity), tiền mặt (cash), tài sản thế chấp (collateral), các điều kiện môi trường (conditions), sự kiểm soát (control), mà vẫn dựa vào cảm tính của nhân viên ngân hàng. Điều này tạo điều kiện cho tô chức “tín dụng đen” ngày càng được tô chức ở phạm vi rộng rãi hơn, quy mô hơn và nhiều người đã trở thành nạn nhân của các tổ chức này.
Trên thực tế, bên cho vay khi tiễn hành thâm định cũng không thê kiểm tra được bên vay có thông qua một tô chức tín dụng đen nào không. Chính sách và quy trình cho vay chưa thực sự chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng dé tính toán điều kiện và khả năng trả nợ của khách hàng khi đáo hạn. Ở Việt Nam, các ngân hàng thường dựa chủ yếu vào giá trị tài sản bảo đảm để quyết định cho vay nên nhiều khi bỏ qua nhiều khách hàng tiềm năng. Về phía bên vay (khách hàng): Bên vay không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ của mình.
Điều này có thê do nhiều yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan. Yếu tổ chủ quan: Là yêu tô xuất phát từ mỗi khách hàng, đó có thé xuất phát từ vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh của tô chức, cá nhân không đáp ứng nhu cầu, năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường và thông tin về các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng tới quá trình sản xuất, công nghệ chưa được cải thiện nên sản phẩm tạo ra chưa có tính cạnh tranh cao, hiệu quả kinh doanh kém, hậu quả kinh doanh thua lỗ lâm vào tình trạng 11 phá sản. Ngoài ra nhiều trường hợp tô chức, cá nhân cố tình đưa ra những thông tin sai sự thật ngay từ khi vay vốn. Những tổ chức, cá nhân thiếu hiểu biết về pháp luật.
Hiện nay, trình độ hiểu biết của khách hàng về những kiến thức pháp luật liên quan còn rất hạn chế. Đã có nhiều trường hợp khách hàng ký hợp đồng trái pháp luật, tự họ đặt bản thân họ vào tinh trạng bất lợi và phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề. Trong thời gian tới, Nhà nước cần có nhiều kênh thông tin tạo cơ hội cho những tổ chức, cá nhân nói riêng tiếp cận và năm vững được quy định của pháp luật, nhằm hạn chế những rủi ro đối với các bên. Yếu tố khách quan: Là những yêu tô tác động ngoài ý chí của khách hàng như do thiên tai, hoả hoạn, do sự thay đổi của chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch, do biến động thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hoá thay đồi.làm cho hoạt động của bên vay không tiến hành được như kế hoạch đã định.
Yếu tổ gây ra do quy định của pháp luật: Nhiều quy định còn được hiểu chưa thống nhất, dẫn đến mỗi bên hiểu theo những cách khác nhau nhằm bảo vệ cho quyền và lợi ích của mình, từ đó nảy sinh những bất đồng mâu thuẫn và đi đến tranh chấp.