Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2 : Các phần tử của hệ thống thuỷ lực Chương 3 : Giới thiệu về điện - thuỷ lực kết hợp điều khiển PLC Chương 4 : Dùng PLC điều khiển các mạch thuỷ lực Chương 5 : Kết luận và kiến nghị 1. Phương pháp nghiên cứu Tôi thực hiện khoá luận theo phương pháp dựa trên trang thiết bị đã có trong phòng thí nghiệm, các tài liệu về thuỷ lực, điện - thuỷ lực và các đề tài có liên quan cùng với sự hướng dẫn giúp đỡ của các thầy cô giáo trong việc làm các thí nghiệm lắp và điều khiển mạch thuỷ lực. Kết quả và giới hạn của đề tài Kết quả là đưa ra một bản báo cáo với nội dung như sau: Nêu ra được lý do thực hiện đề tài, cơ sở lý thuyết về thuỷ lực, điện - thuỷ lực, các đặc tính của PLC S7 – 200 và dùng nó để điều khiển các mạch thuỷ lực. Với góc độ là một đề tài tốt nghiệp của sinh viên, do kiến thức còn nhiều hạn chế nên đề tài chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu về cấu tạo của hệ thống các thiết bị điện - thuỷ lực và từ các thiết bị đã có tôi xây dựng các mạch thuỷ lực cơ bản, các mạch điện điều khiển và kết hợp PLC điếu khiển chúng.
CÁC PHẦN TỬ CỦA HỆ THỐNG THUỶ LỰC 2. Khái niệm về truyền động thuỷ lực Truyền động thuỷ lực là quá trình biến đổi năng lượng của hệ thống thuỷ lực mà bơm thuỷ lực và động cơ thuỷ lực là hai khâu của quá trình này. Bơm thuỷ lực làm nhiệm vụ biến đổi cơ năng thành thuỷ năng, động cơ thuỷ lực thì biến đổi thủy năng thành cơ năng. Dầu thuỷ lực là môi chất của sự truyền năng lượng.
Các phần tử của hệ thống thuỷ lực 2. Nguồn động lực Bộ nguồn cung cấp công suất năng lượng cần thiết bằng cách chuyển hoá cơ năng từ động cơ. Bộ phận quan trọng nhất trong bộ nguồn là bơm thuỷ lực. Bơm tải dầu thuỷ lực từ thùng dầu và cung cấp cho hệ thống qua các đường ống dẫn trong hệ thống lắp đặt thuỷ lực để vượt qua lực cản.
Áp suất không được tạo ra cho đến khi chất lỏng bị lực cản tác động.1 : Bơm thuỷ lực Ký hiệu đồ họa : Bơm thuỷ lực được diễn tả bằng một vòng tròn và cho thấy vị trí trục động cơ hay đầu ra. Hình tam giác trong vòng tròn cho biết hướng dòng chảy. Nếu hình tam giác này được bôi đen thì dầu thuỷ lực được sử dụng trong hệ thống, trong trường hợp khí nén các hình tam giác này không được bôi đen. Dưới đây là hai loại bơm thuỷ lực: Bơm thuỷ lực thể tích cố định 5 với dòng chảy một chiều (hình 2.2a) và bơm thuỷ lực thể tích cố định với dòng chảy hai chiều (hình 2.2: Ký hiệu bơm thuỷ lực Trong bộ nguồn còn có cả bộ lọc dầu để loại bỏ các chất thải ra khỏi dầu thuỷ lực.
Nước và các chất khí trong dầu cũng là các yếu tố phân huỷ và được loại ra bằng các phương pháp đặc biệt. Bộ gia nhiệt và bộ làm mát cũng được lắp đặt để ổn định nhiệt độ của dầu thuỷ lực. Các thiết bị này có cần thiết hay không tuỳ thuộc vào các yêu cầu của các ứng dụng đặc biệt của hệ thống thuỷ lực được sử dụng. Dầu thuỷ lực Dầu thuỷ lực là một môi chất làm việc được sử dụng để chuyền năng lượng từ bộ nguồn đến các bộ phận của động cơ.
Dầu thuỷ lực có nhiều đặc tính khác nhau. Vì thế chúng phải được lựa chọn phù hợp với các ứng dụng. Van điều khiển hướng Các van này có tác dụng điều khiển dòng chảy của dầu thuỷ lực, hướng chuyển động và các vị trí của các cơ phận. Những van điều khiển hướng có thể tác động bằng tay, cơ khí, điện, khí nén hoặc thuỷ lực.
Chúng chuyển hoá và khuếch đại tín hiệu bằng điện hoặc khí nén để tạo nên giao diện giữa phần điều khiển công suất và phần điều khiển tín hiệu.3: Van điều khiển hướng 6 a. Ký hiệu của van điều khiển hướng Số hình vuông cho biết số vị trí có thể đóng mở cho một van. Các mũi tên trong hình vuông cho biết hướng dòng chảy. Các đường thẳng cho biết các cửa van được kết nối với các vị trí đóng mở khác nhau như thế nào.
Có hai phương pháp thiết kế các cửa van. Phương pháp thứ nhất sử dụng các mẫu tự P, T, A, B và L, phương pháp thứ hai đánh dấu các cửa van với các mẫu tự theo thứ tự A, B, C, D,…Các cửa van luôn được đánh dấu với van ở vị trí nghỉ. Nếu không có vị trí nghỉ chúng được đặt tại vị trí đóng mở giống như van của hệ thống đang ở vị trí ban đầu của nó. A Van 2/2 P Định danh cửa van: A P : Cửa cấp nguồn T : Cửa xả Van 3/2 A , B : Cửa công suất P T L : Cửa dầu rò rỉ A B Hoặc : Van 4/2 A : Cửa cấp nguồn P T B : Cửa xả C , D : Cửa công suất A B L : Cửa dầu rò rỉ Van 4/3 P T Hình 2.4: Ký hiệu van điều khiển hướng 7 b.
Các phương pháp điều khiển van Có thể đóng mở vị trí của một van điều khiển tuyến tính bằng nhiều phương pháp tác động khác nhau: nút nhấn, bàn đạp, đòn bẩy, … Lò xo luôn luôn cần thiết để đưa về vị trí ban đầu. Trả về vị trí ban đầu cũng có thể bằng cách đóng mở van lần thứ hai. Dưới đây là các phương pháp tác động quan trọng : Ký hiệu tổng quát với lò xo hồi và lỗ xả dầu rò rỉ Bằng nút nhấn với lò xo hồi. Bằng cần đẩy.
Bằng cần đẩy với khoá hãm Bằng bàn đạp chân với lò xo hồi Hình II.5:Các phương pháp điều khiển van 2. Van áp suất Những van này có chức năng tác động đến áp suất của toàn bộ hệ thống thuỷ lực hoặc một phần của hệ thống. Phương pháp vận hành của các van này dựa trên thực tế là áp suất từ hệ thống tác động lên bề mặt của van. Lực tạo ra được cân bằng bởi một lò xo phản hồi.6: Van áp suất 8 Ký hiệu của van áp suất:Van áp suất được diễn tả qua các hình vuông.
Chiều dòng chảy được xác định bằng một mũi tên. Các cửa van có thể được đánh dấu bằng P(Port) và T(Tank) kết nối với thùng dầu hoặc A và B. Vị trí của van trong hình vuông cho biết van thường đóng hay van thường mở.7a van thường mở, hình 2.7b thể hiện dòng chảy từ P đến A cửa T đóng, hình 2.7c là van thường đóng A A P B P T T a b c Hình 2.7: Ký hiệu van áp suất Còn một sự phân biệt khác giữa van áp suất cố định (hình 2.8a) và có thể điều chỉnh được. Van áp suất có thể điều chỉnh được được diễn tả bằng một mũi tên chéo xuyên qua lò xo (hình 2.8a: loại cài đặt Hình 2.8b: loại hiệu chỉnh được Van áp suất được chia thành hai loại: Van an toàn: Ở vị trí thường đóng áp suất điều khiển được nhận ra tại cửa van vào áp suất này tác động lên van qua đường điều khiển đến từ cửa van vào trên bề mặt piston được giữ cân bằng với một áp suất điều khiển nhờ một lò xo.
Nếu lực được tạo ra do áp suất tác động lên bề mặt thực của piston vượt quá lực lò xo van sẽ mở. Như thế, có thể xác lập được áp suất giới hạn tại một giá trị cố định P(A) T(B) Hình 2.9: Van an toàn 9 Van điều chỉnh áp suất: Trong trường hợp van điều chỉnh áp suất thường mở, áp suất điều khiển được nhận ra tại cửa van ra. Áp suất này tác động trong van qua đường điều khiển trên bề mặt piston và sinh ra một lực. Lực này tác động đối nghịch với lực lò xo.
Van bắt đầu đóng khi áp suất cửa van ra lớn hơn lực lò xo. Quá trình đóng này tạo ra sự sụt áp từ cửa van vào đến cửa van ra của van (do điều khiển dòng chảy). Khi áp suất cửa van ra đạt một giá trị xác định, van đóng hoàn toàn.10: Van điều chỉnh áp suất 2. Van tiết lưu Những van này tác động tương tác với van áp suất để tác động đến lưu tốc.
Chúng cho khả năng điều khiển và điều chỉnh vận tốc của bộ phận truyền động Hình 2.11: Van tiết lưu Trong trường hợp van tiết lưu, cần phân biệt loại van tiết lưu không hiệu chỉnh được (hình 2.11a) và van điều khiển lưu lượng (hình 2. Van điều khiển lưu lượng hai đường gồm hai thiết diện giới hạn, một tiết diện không bị tác động bởi độ nhớt và một loại tiết lưu có thể chỉnh được. Sự thiếu hụt của tiết lưu điều chỉnh có thể được giảm bớt bằng cách thay đổi áp suất. Loại tiết lưu có thể điều chỉnh này còn gọi là một bộ cân bằng áp suất.
Những van này được diễn tả bằng một hình vuông trong đó có vẽ ký hiệu tiết lưu khác nhau và một mũi tên tượng trưng cho cân bằng áp suất. Mũi tên nằm ngang qua hình vuông tượng trưng cho van có thể điều chỉnh được.11: Ký hiệu van tiết lưu 2. Van một chiều Hinh 2.12: Van một chiều Ký hiệu của van một chiều là một quả cầu được đặt trên một hình chữ Y. Ký hiệu này được vẽ như một hình tam giác mở trong đó chứa một quả cầu.
Điểm hội tụ trên hình tam giác cho biết hướng bị khoá và không phải hướng của dòng chảy. Van trợ lực điều khiển một chiều được diễn tả qua một hình vuông trong đó có vẽ ký hiệu của van một chiều. Đường trợ lực điều khiển trong van được diễn tả bằng một kết nối điều khiển dưới dạng một đường gián đoạn. Cửa van trợ lực điều khiển được đặt tên bằng mẫu tự X B A X Hình 2.13: Van trợ lực điều khiển một chiều Van đóng mở (van khoá) được biểu diễn qua hai hình tam giác đối mặt nhau.
Chúng được sử dụng để hạ áp suất trong hệ thống bằng tay hoặc giảm tải trong ắc quy. Trên nguyên tắc, tại bất cứ nơi nào cần đóng mở bằng tay. Xy lanh là những bộ phận được sử dụng để chuyển hóa năng lượng thủy lực thành cơ năng. Chúng tạo ra các chuyển động thẳng nhờ áp suất tác động lên bề mặt của piston.
Xy lanh được phân loại theo kiểu tác động đơn (hình 2.15a ) và tác động kép (hình 2.