chương 1, chương này đưa ra các phương pháp nghiên cứu với hệ thống biến được sử dụng trong mô hình, các giả thuyết nghiên cứu, quy trình thực hiện nghiên cứu, thiết kế mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận về hành vi ứng phó với bụi mịn PM2.5 Chương 3 đưa ra mô tả mẫu điều tra, kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi ứng phó với bụi mịn PM2.5 của người dân sống tại thành phố Hà Nội. Từ đó phân tích nhân tố khám phá và đưa ra những kết luận cho kết quả nghiên cứu. Chương 4: Kiến nghị, giải pháp cho cơ quan quản lý tại thành phố Hà Nội 14 Chương cuối cùng đưa ra một số đề xuất giải pháp, kiến nghị cho các cơ quan quản lý nhằm thúc đây các hành vi ứng phó với bụi mịn PM2.5 của người dân sống tại thành phố Hà Nội, góp phần hướng tới mục tiêu cải thiện nồng độ bụi mịn có trong không khí, nâng cao chất lượng nhân lực và giảm thiêu tác động tiêu cực tới nền kinh tế tại thành phố Hà Nội.
15 CHUONG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HANH VI UNG PHO VOI BUI MỊN PM2. Tong quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu về mô hình lý thuyết có kế hoạch trong việc bảo vệ môi trường Trong nghiên cứu hành vi du lịch có trách nhiệm (ERB), Wang và các cộng sự (2018) sử dung TPB với tập mẫu khảo sát là các đu khách tại khu du lịch núi Hoàng Sơn, Trung Quốc. Nhóm tác giả đã rút ra kết luận cả ba biến độc lập gồm thái độ (ATT), chuẩn mực chủ quan (SN) và nhận thức kiểm soát hành vi (PBC) đều có ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi du lịch có trách nhiệm đối với môi trường của du khách (ERBI) và ERBI, PBC có tác động tích cực đến hành vi du lịch có trách nhiệm với môi trường.
Mở rộng hơn vấn đề nghiên cứu, Wang và các cộng sự (2020) chia hành vi môi trường của khách du lich ra làm ba loại là hành vi cấp tiễn về môi trường (environment radical behavior - ERB2), hành vi bảo thủ với môi trường (environment conservative behavior - ECR) và hành vi gây phiền phức đến môi trường (environment disturbing behavior - EDB). Trong đó ERB2 va ECB là hai hành vi mang tính tích cực, yêu cầu khách du lịch phải có tinh thần trách nhiệm với môi trường còn EDB là ý thức bảo vệ môi trường của khách du lịch còn yếu kém, họ không có các hành vi thân thiện với môi trường. Cả ba hành vi này đều được xác định thông qua ba biến độc lập là thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Kết quả của công trình cũng gần tương đồng với các nghiên cứu khác khi cho thấy ATT tác động tích cực đến các hành vi môi trường (EB) của du khách; SN tác động tích cực đến ý định hành vi bảo thủ với môi trường (ECBI) và ý định hành vi gây phiền phức đến môi trường (EDBI) còn PBC tác động tích cực đến ý định hành vi môi trường (EBI) và EB của khách du lịch.
Thông qua kết quả, nhóm tác giả đã có những khuyến nghị đến các cơ quan liên quan như nâng cao nhận thức của cộng đồng, tạo bầu không khí và khuyến khích du khách có hành vi có trách nhiệm với 16 môi trường, cải thiện cơ sở hạ tầng và nhận thức có kiểm soát khách du lịch trong việc thực hiện hành vi bảo vệ môi trường. Cùng sử dụng TPB dé phân tích yếu tố ảnh hưởng ERB, Panwanitdumrong và các cộng sự (2021) nhận thấy hành vi bỏ rác không đúng nơi quy định tại khu du lịch ven biển tại Thái Lan là nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm môi trường biển. Kết quả của nghiên cứu tương đồng với của Wang và các cộng sự (2018) khi nhận thấy hành vi du lịch có trách nhiệm của du khách trong vấn đề giảm lượng rác thải biển có thể được dự đoán thông qua ERBI và PBC. Điều này phù hợp với nghiên cứu trước đây của Wang và các cộng sự (2019).
Đồng thời ERBI cũng được xác định thông qua PBC, SN và ATT, trong đó PBC có tác động tích cực lớn nhất đến ERBI của du khách, tức là khách du lịch tin răng họ có thé thực hiện và kiểm soát hành vi có lợi cho môi trường. Sự ảnh hưởng mạnh mẽ bởi PBC cũng được chứng minh từ trước bởi các công trình của Hu và các cộng sự (2018), Soorani và Ahmadvand (2019), Xu và các cộng sự (2020). Tác động tích cực mạnh mẽ thứ hai là chuẩn mực chủ quan cho thấy ERBI của du khách được thúc day bởi những người quan trọng đối với ho. Grilli va Curtis (2021) cũng có kết luận tương tự.
Cuối cùng là ảnh hưởng tích cực từ ATT cho thấy khách du lịch có thái độ tích cực đối với ERB sẽ sẵn sàng tham gia ERB. Các nghiên cứu trước đây của Wang và các cộng sự (2019), Soorani và Ahmadvand (2019), Hu và các cộng sự (2019) cũng có những kết luận tương tự về tác động tích cực của thái độ đến hành vi thân thiện với môi trường. Wang và các cộng sự (2020) đã thực hiện đề tài nghiên cứu các công trình môi trường công cộng: Các yếu tô vệ sinh đối với hành vi môi trường của khách du lịch. Bài nghiên cứu dựa trên lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) khảo sát các khách du lịch dé tìm hiểu tác động của PEF đối với EDB của khách du lịch bằng cách sử dung mô hình phương trình cấu trúc và phương pháp phân tích đa nhóm.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rang thái độ của khách du lịch (ATT) và các chuẩn mực chủ quan (SN) có tác động tiêu cực đáng ké đến các ý định ảnh hưởng tới môi trường của họ (EDBI). Kiểm soát nhận thức (PBC) có tác động tiêu cực đáng kề đến EDBI và EDB. Ngoài ra, có một tác động 17 tích cực đáng kế của EDBI đối với EDB. Thứ hai, PEF tại điểm du lịch đóng một vai trò tiêu cực trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa EDBI và EDB của khách du lịch, tức là PEF là các yếu tố vệ sinh đối với hành vi môi trường của khách du lịch.
Dựa trên những kết quả thu được, nhóm tác giả đã đề xuất các chính sách quản lý đối với các công trình môi trường công cộng tại các điểm du lịch và nhân mạnh tam quan trong của các yếu tô tâm lý của khách du lịch đối với tính bền vững lâu dài của các điểm du lịch. Việc áp dụng TPB dé xem xét hành vi du lịch có trách nhiệm van có những lỗ hồng. Liu và các cộng sự (2019) đã phát triển mô hình TPB mở rộng thông qua quan điểm lý thuyết cửa số vỡ. Lý thuyết này gợi ý rằng điều kiện môi trường của một địa điểm sẽ tác động đến hành vi của khách du lịch.
Theo đó, một môi trường sạch sẽ va gon gang khiến du khách có các hành vi tích cực hơn đối với môi trường và ngược lại. Nhóm tác giả đã phân tích thêm biến độc lập nhận thức về chất lượng môi trường (perceived environment quality - PEQ) và các biến trung gian là ATT, SN, PBC và một biến mới là nghĩa vụ đạo đức (moral obligation - MO) hay chuẩn mực đạo đức (MN). Thông qua mô hình và dữ liệu thu thập được, công trình đã cho thấy PEQ đóng vai trò như một tiền đề quan trọng của các yếu tố cơ bản của mọi người đến ERB. Về biến trung gian MO được thêm, kết quả cho thấy không có tác động rõ ràng như các biến của mô hình TPB ban đầu trong đó SN là yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất đến khách du lịch Trung Quốc.
Tính mới của nghiên cứu này sẽ là cơ sở dé các nhà quản lý du lịch xây dựng một môi trường sạch sẽ, gọn gàng để thúc đây du khách du lịch có trách nhiệm với môi trường hơn. Dé kiểm tra ý định và hành vi mua sản phẩm thân thiện với môi trường của du khách dé hướng tới phát triển bền vững, Gautam (2020) đã thay đổi một số biến trong mô hình TPB như thêm biến hiểu biết về môi trường (ENK) và kiểm tra tác động của nó đến biến thái độ; thay đổi bién nhận thức kiểm soát hành vi thành hai biến kiểm soát tinh khả dụng (COA) liên quan đến mức độ dễ dàng hay khó khăn mà người tiêu dùng đã trải qua trong việc tìm kiếm và mua sản phẩm và biến cảm nhận về hiệu quả của người tiêu dùng (PCE) là niềm tin của một người rang bản thân họ và mọi người có thé tác động 18 đến kết quả theo hướng tích cực. Kết quả của công trình đã mở rộng hơn lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991), cả mô hình đo lường và cấu trúc đều cho thấy sự phù hợp. Có thé thấy biến ENK có tác động tích cực đáng kể đến thái độ; biến SN tác động mạnh mẽ đến ý định mua hàng trong khi COA thì ngược lại; giống nghiên cứu của Birgelen và các cộng sự (2009), Gautam (2020) cho thấy biến SN tác động tích cực đến hành vi mua hàng.
Như vậy, với kết luận của công trình thì cần có các hoạt động nâng cao sự hiểu biết về môi trường và các sản phẩm thân thiện môi trường đề hướng tới các hoạt động phát triển bền vững. Lee và các cộng sự (2015) đã nhận định răng, để giảm thiểu suy thoái môi trường, điều quan trọng là phải xây dựng hành vi có trách nhiệm với môi trường của du khách. Thái độ môi trường của du khách có mối quan hệ tích cực với hành vi có trách nhiệm với môi trường, tuy nhiên, thái độ không phải là yếu tố dự đoán duy nhất về hành vi du lịch có trách nhiệm. Những hành động ngoài ý muốn của du khách làm suy giảm hệ sinh thái, do đó, việc cung cấp kiến thức về môi trường có thé nhắc nhở du khách tham gia vào hành vi có trách nhiệm với môi trường.
Hơn nữa, dịch vu, sự gan bó với dia điểm có thé tạo ra những cảm xúc và cảm giác tích cực với địa điểm đó, và sẽ khuyến khích du khách có những hành vi có trách nhiệm với môi trường. Stanford (2006) cho rằng nhận thức được coi là một khía cạnh quan trọng của hành vi du lịch có trách nhiệm nhưng rất ít khách du lịch nhận thức được các chỉ tiết cụ thể về ngữ cảnh. Do đó, thông tin được coi là quan trong dé đạt được hành vi du lịch có trách nhiệm.