Chương 1: Giới thiệu tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu của bài toán dự đoán giá cổ phiếu, phát biểu bài toán dự đoán và mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp để đạt kết quả tối ưu nhất. • Chương 2: Giới thiệu những kiến thức nền tảng sẽ được bao gồm trong khoá luận. Cụ thể, chương này sẽ giới thiệu các kiến thức nền của học máy (mạng nơ-ron nhân tạo, kỹ thuật lan truyền ngược), các mô hình học sâu được huấn luyện LSTM. • Chương 3: Trong chương này, sẽ tổng quan về dự đoán thị trường cổ phiếu, cũng như hướng tiếp cận và đề xuất nghiên cứu, chúng tôi đi vào giới thiệu về các công ty được dự đoán trong khoá luận và đi sâu vào mô hình đề xuất.
• Chương 4: Trình bày thực nghiệm, các bước tiền xử lý dữ liệu, huấn luyện mô hình, các phương pháp đánh giá mô hình với từng hướng tổ chức tập dữ liệu khác nhau, từ đó rút ra được các nhận xét về mô hình đã cài đặt và trực quan hóa kết quả. • Chương 5: Tóm tắt các ý chính của khoá luận , phân tích các ưu và khuyết điểm của mô hình được huấn luyện, từ đó đề xuất mô hình thích hợp cho bài toán dự đoán giá cổ 20 phiếu và các hướng giải quyết khả thi có thể tiếp cận trong tương lai, ứng dụng tốt trong thực tiễn. 21 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHỨNG KHOÁN 2.
Khái niệm chứng khoán Chứng khoán là các công cụ để huy động vốn trung và dài hạn, các giấy tờ có giá, có khả năng chuyển đổi, chuyển nhượng nhằm xác nhận quyền sở hữu, quan hệ vay nợ giữa người nắm giữ nó và chủ thể phát hành ra nó [3]. Đối với mỗi loại chứng khoán thường có các tính chất sau: - Tính thanh khoản của một chứng khoán là khả năng chuyển đổi giữa chứng khoán đó sang tiền mặt. Thanh khoảng của chứng khoán thể hiện qua việc chứng khoán đó được mua bán, trao đổi trên thị trường. - Tính sinh lời: Thu nhập của nhà đầu tư được sinh ra từ việc tăng giá chứng khoán trên thị trường, hay các khoản tiền lãi (cổ tức) được trả hàng năm.
- Tính rủi ro: Đây là đặc trưng cơ bản của chứng khoán. Trong quá trình trao đổi, mua đi bán lại, giá của chứng khoán bị giảm hoặc mất hoàn toàn ta gọi là rủi ro. Phân loại chứng khoán Cổ phiếu: là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với thu nhập và tài sản của công ty cổ phần. Số vốn đóng góp để thành lập công ty được chia ra thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần.
Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ phiếu có thể được phát hành dưới dạng chứng chỉ vật chất hoặc bút toán ghi sổ, chỉ có công ty cổ phần mới có cổ phiếu. Giá trị ban đầu ghi trên cổ phiếu là mệnh giá của cổ phiếu. Mệnh giá là giá trị danh nghĩa.
Số tiền nhận được từ khoản góp vốn gọi là cổ tức. Giá cổ phiếu giao động qua các phiên giao dịch trên thị trường chứng khoán và tách rời so với mệnh giá. Cổ phiếu được chia thành 2 loại [3]: - Cổ phiếu thường: Là loại cổ phiếu không có kỳ hạn, tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty phát hành ra nó, nó không có lãi suất cố định, số lãi được chia vào cuối mỗi niên độ quyết toán. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu này có quyền bỏ phiếu, mua cổ phiếu mới, tham gia vào đại hội cổ đông.
- Cổ phiếu ưu đãi: Gồm 2 loại 22 * Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết: là cổ phiếu dành cho các cổ đông sáng lập. Cổ đông nắm giữ loại cổ phiếu này phải nắm giữ trong một khoảng thời gian nhất định, không được chuyển nhượng, trao đổi. * Cổ phiếu ưu đãi tài chính: tương tự như cổ phiếu thường nhưng có một số hạn chế: cổ đông nắm giữ cổ phiếu này không được tham gia bầu cử, ứng cử vào hội đồng quản trị, ban kiểm soát của công ty. Nhưng họ được hưởng ưu đãi về tài chính theo một mức cổ tức riêng biệt, có tính cố định hàng năm, được ưu tiên chia cổ tức và phân chia tài sản còn lại của công ty sau khi thanh lý, giải thể trước cổ phiếu thường.
Trái phiếu: là loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành phải trả cho người nắm giữ chứng khoán đó một khoản tiền xác định vào những thời hạn cụ thể và theo những điều kiện nhất định. Đây là những chứng khoán nợ, được phát hành dưới dạng chứng chỉ vật chất hoặc bút toán ghi sổ. Trái phiếu bao gồm các loại sau [3]: - Trái phiếu vô danh: loại này không ghi tên trái chủ trên cả chứng chỉ và sổ sách của các tổ chức phát hành. Việc chuyển nhượng loại trái phiếu này rất dễ dàng nên nó thường được giao dịch trên thị trường chứng khoán.
- Trái phiếu ghi danh: ghi tên, địa chỉ của trái chủ trên chứng chỉ và sổ sách của tổ chức phát hành. Loại này ít được đem trao đổi trên thị trường. - Trái phiếu chính phủ: là loại trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm bù đắp cho thâm hụt ngân sách. Đây là loại chứng khoán mà các nhà đầu tư không ưa mạo hiểm rất ưa thích vì nó hầu như không có rủi ro thanh toán.
- Trái phiếu công trình: là loại trái phiếu được phát hành để huy động vốn xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng hay công trình phúc lợi công cộng. - Trái phiếu công ty: do công ty phát hành để vay vốn trung và dài hạn. Khi công ty bán trái phiếu thì công ty là người đi vay của người mua, người mua là chủ nợ. Công ty phải cam kết trả cả lãi và gốc cho trái chủ như đã nêu trong hợp đồng.
Nó bao gồm các loại: trái phiếu có đảm bảo, trái phiếu không có bảo đảm, trái phiếu có thể mua lại. Chứng chỉ quỹ đầu tư: là chứng khoán được phát hành bởi công ty quản lý quỹ để huy động vốn từ các nhà đầu tư. Vốn được dùng để mua bán kinh doanh các loại chứng 23 khoán khác để kiếm lời, sau đó chia tiền lời đó cho các nhà đầu tư. Có thể phân loại chứng chỉ quỹ đầu tư thành: - Quỹ đầu tư chung: đây là loại quỹ mà tất cả mọi người đều có thể tham gia.
- Quỹ đầu tư riêng: chỉ giới hạn ở một nhóm người nhất định. - Quỹ đầu tư dạng mở: là quỹ đầu tư trong đó nhà đầu tư có quyền bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho quỹ phát hành chứng khoán liên tục để huy động vốn và sẵn sàng mua lại số chứng khoán mà nó đã phát hành ra. - Quỹ đầu tư cổ phiếu: quỹ chuyên đầu tư vào một loại cổ phiếu nhất định. - Quỹ đầu tư trái phiếu: là quỹ để đầu tư vào một loại trái phiếu nào đó.
- Quỹ đầu tư hỗn hợp: loại quỹ đầu tư vào bất kì loại chứng khoán nào nếu thấy có hiệu quả. Ngoài ra, cũng có một số loại chứng khoán khác (thường gọi là công cụ phái sinh) như: Giấy bảo đảm quyền mua cổ phiếu, các hợp đồng kì hạn, chứng quyền. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2. Khái niệm thị trường chứng khoán Để thực hiện quá trình sản xuất, chúng ta cần phải có các yếu tố: lao động, vốn, đất đai, khoa học kỹ thuật.
Trong đó vốn ngày càng đóng một vai trò quan trọng, nhưng để có một lượng vốn lớn thì không một cái nào có thể đảm nhiệm được. Trong khi đó những người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu vốn, còn những người có vốn thì lại ít có cơ hội đầu tư. Thực tế đó đòi hỏi cần phải có những tổ chức trung gian nối liền giữa người thừa vốn và những người thiếu vốn. Hệ thống ngân hàng ra đời đó đáp ứng được phần nào yêu cầu đó.
Tuy nhiên, để thu hút được các nguồn tiền tệ nhàn rỗi của xã hội và một số nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào sản xuất để kiếm lời tận gốc thì thị trường chứng khoán ra đời [4]. Thị trường chứng khoán là nơi giao dịch các loại chứng khoán theo các mục đích khác nhau của các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán. Vai trò của thị trường chứng khoán Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực với sự ra đời của tổ chức thương mại thế giới (WTO), của liên minh Châu Âu, của khối thị trường chung đòi hỏi các quốc gia phải 24 thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu quả cao. Thực tế phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã khẳng định vai trò của thị trường chứng khoán trong phát triển kinh tế.
Thứ nhất, thị trường chứng khoán với việc tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế. Ở Hàn Quốc, thị trường chứng khoán đó đóng vai trò không nhỏ trong sự tăng trưởng kinh tế trong hơn ba mươi năm, cho tới thập kỷ 90 thị trường chứng khoán nước này đã lớn mạnh và đứng hàng thứ 13 trên thế giới góp phần tạo mức tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 9% năm, thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm 1995 là trên 10. Yếu tố thông tin là yếu tố cạnh tranh trên thị trường sẽ đảm bảo cho việc phân phối vốn một cách hiệu quả. Thị trường tài chính là nơi tiên phong áp dụng công nghệ mới và nhạy cảm với môi trường thường xuyên thay đổi.
Trên thị trường chứng khoán, tất cả các thông tin được cập nhật và được chuyển tải tới tất cả các nhà đầu tư để họ có thể phân tích và định giá cho các chứng khoán. Thị trường chứng khoán đó tạo ra một sự cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường tài chính, do đó các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính phải quan tâm tới hoạt động tài chính của họ và làm giảm chi phí tài chính. Việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán có thể làm tăng vốn tự có của các công ty và giúp họ tránh các khoản vay có chi phí cao cũng như sự kiểm soát chặt chẽ của các ngân hàng thương mại. Thị trường chứng khoán khuyến khích tính cạnh tranh của các công ty trên thị trường.
Sự tồn tại của các thị trường chứng khoán cũng là yếu tố quyết định để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.