Luận văn thạc sĩ nghiên cứu lựa chọn phương án dự báo lũ cho các trạm thủy văn cơ bản tỉnh an giang phục vụ công tác dự báo nghiệp vụ

Luận văn thạc sĩ phân tích nghiên cứu lựa chọn phương án dự báo lũ cho các trạm thủy văn cơ bản tỉnh an giang phục vụ công tác, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Thủy văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2019

107
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH AN GIANG VÀ BỘ CƠ SỞ DỮ LIỆU KTTV

1.1. TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TỈNH AN GIANG

1.1.1. Vị trí địa lý

1.1.2. Đồng bằng phù sa

1.1.3. Đồng bằng ven núi

1.1.4. Hệ thống sông, kênh, rạch và hồ

1.1.4.1. Hệ thống sông chính
1.1.4.2. Hệ thống rạch tự nhiên
1.1.4.3. Hệ thống kênh đào
1.1.4.4. Hệ thống khe suối
1.1.4.5. Hệ thống hồ

1.1.5. Đặc điểm khí tượng - khí hậu

1.1.5.1. Thời gian nắng
1.1.5.2. Độ ẩm không khí
1.1.5.3. Diễn biến nhiệt

1.1.6. Đặc điểm thủy văn mùa lũ

1.1.7. Đặc điểm thủy văn mùa kiệt

1.2. TỔNG QUAN KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH AN GIANG

1.3. BỘ CSDL KTTV PHỤC VỤ DỰ BÁO LŨ TỈNH AN GIANG

1.3.1. Thu thập, xử lý và xây dựng bộ CSDL KTTV

1.3.2. Đánh giá kết quả thu thập, xử lý số liệu và xây dựng bộ CSDL KTTV

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH, LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN DỰ BÁO LŨ CHO CÁC TRẠM CƠ BẢN THUỘC TỈNH AN GIANG

2.1. TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG ÁN DỰ BÁO LŨ

2.2. PHÂN TÍCH, LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN DỰ BÁO LŨ CHO CÁC TRẠM CƠ BẢN THUỘC TỈNH AN GIANG

2.2.1. Phân tích diễn biến lũ, ngập lụt. Lũ sông Cửu Long. Thời gian truyền lũ

2.2.2. Phân tích diễn biến thủy triều

2.2.3. Phân tích ảnh hưởng của các công trình đến dòng chảy lũ

2.2.3.1. Hệ thống hồ đập thủy điện thượng nguồn sông Mekong
2.2.3.2. Hệ thống đê bao và công trình thủy nông. Phân tích, lựa chọn phương án dự báo lũ

2.2.4. Phân tích phương án dự báo

2.2.5. Lựa chọn, xây dựng phương án dự báo

2.2.6. Xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính nhiều biến cho từng trạm dự báo

2.3. ÁP DỤNG DỰ BÁO KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

2.3.1. Áp dụng dự báo kiểm nghiệm. Đánh giá kết quả dự báo

3. CHƯƠNG 3: DỰ BÁO NGHIỆP VỤ CHO CÁC TRẠM CƠ BẢN THUỘC TỈNH AN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN. PHƯƠNG ÁN DỰ BÁO LŨ NGHIỆP VỤ CHO CÁC TRẠM CƠ BẢN THUỘC TỈNH AN GIANG

3.1. Quy trình kỹ thuật dự báo lũ nghiệp vụ

3.2. Xác định các sai số

3.3. Kết quả dự báo lũ nghiệp vụ

3.3.1. Đánh giá phương án dự báo mực nước lớn nhất ngày

3.4. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÔNG TÁC DỰ BÁO LŨ NGHIỆP VỤ THUỘC ĐÀI KTTV TỈNH AN GIANG

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về dự báo lũ An Giang Tình hình hiện tại

Dự báo lũ tại tỉnh An Giang đang trở thành một vấn đề cấp bách do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và sự phát triển đô thị. Tỉnh An Giang, nằm ở hạ lưu sông Mekong, thường xuyên phải đối mặt với tình trạng lũ lụt nghiêm trọng. Hệ thống sông ngòi dày đặc và địa hình thấp khiến cho việc dự báo lũ trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Việc áp dụng các phương pháp dự báo hiện đại là cần thiết để giảm thiểu thiệt hại do lũ gây ra.

1.1. Tình hình lũ lụt tại An Giang Nguyên nhân và tác động

Lũ lụt tại An Giang chủ yếu do mưa lớn và nước từ sông Mekong dâng cao. Biến đổi khí hậu đã làm tăng cường độ và tần suất mưa, dẫn đến tình trạng ngập úng nghiêm trọng. Các công trình thủy lợi và đê bao cũng ảnh hưởng đến dòng chảy, làm gia tăng nguy cơ lũ lụt.

1.2. Vai trò của dự báo lũ trong quản lý thủy văn

Dự báo lũ đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý tài nguyên nước và phòng chống thiên tai. Nó giúp các cơ quan chức năng có kế hoạch ứng phó kịp thời, giảm thiểu thiệt hại cho người dân và tài sản.

II. Thách thức trong công tác dự báo lũ An Giang hiện nay

Công tác dự báo lũ tại An Giang đang gặp nhiều thách thức. Sự biến đổi khí hậu, cùng với sự phát triển của các công trình thủy điện, đã làm thay đổi chế độ dòng chảy. Điều này khiến cho các phương pháp dự báo hiện tại không còn hiệu quả như trước. Cần có những giải pháp mới để cải thiện chất lượng dự báo.

2.1. Biến đổi khí hậu và tác động đến dự báo lũ

Biến đổi khí hậu đã làm thay đổi mô hình thời tiết, dẫn đến sự gia tăng cường độ mưa và tần suất lũ. Điều này gây khó khăn cho việc dự báo chính xác mực nước lũ.

2.2. Hạn chế của các phương pháp dự báo hiện tại

Các phương pháp dự báo hiện tại thường dựa vào dữ liệu lịch sử và không thể phản ánh chính xác tình hình thực tế. Mức độ chính xác của dự báo thường chỉ đạt khoảng 70-80%, không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao.

III. Phương pháp dự báo lũ hiệu quả cho An Giang

Để nâng cao chất lượng dự báo lũ, cần áp dụng các phương pháp hiện đại và tích hợp công nghệ thông tin. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn đồng bộ và chính xác là rất quan trọng. Các mô hình toán học cũng cần được cải tiến để phù hợp với điều kiện thực tế tại An Giang.

3.1. Xây dựng cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn

Cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn cần được xây dựng một cách đồng bộ và chính xác. Việc thu thập và xử lý dữ liệu từ các trạm đo lường là rất quan trọng để phục vụ cho công tác dự báo.

3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dự báo lũ

Công nghệ thông tin có thể giúp cải thiện độ chính xác của dự báo lũ. Việc sử dụng các phần mềm mô phỏng và phân tích dữ liệu sẽ giúp các nhà khoa học đưa ra những dự báo chính xác hơn.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp dự báo mới có thể nâng cao độ chính xác của dự báo lũ tại An Giang. Các kết quả thử nghiệm cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong việc dự đoán mực nước lũ. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu thiệt hại mà còn nâng cao khả năng ứng phó của cộng đồng.

4.1. Kết quả dự báo lũ tại các trạm thủy văn

Kết quả dự báo tại các trạm thủy văn cho thấy sự cải thiện đáng kể về độ chính xác. Các mô hình mới đã giúp dự đoán chính xác hơn về mực nước lũ trong các tình huống khác nhau.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đã được áp dụng vào thực tiễn, giúp các cơ quan chức năng có kế hoạch ứng phó kịp thời. Điều này đã góp phần giảm thiểu thiệt hại do lũ lụt gây ra.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Dự báo lũ tại An Giang cần được cải thiện để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao. Việc áp dụng các phương pháp mới và công nghệ hiện đại là cần thiết. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các giải pháp dự báo lũ hiệu quả hơn, nhằm bảo vệ an toàn cho người dân và tài sản.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu liên tục

Nghiên cứu liên tục là cần thiết để cập nhật các phương pháp dự báo mới và cải thiện độ chính xác. Điều này sẽ giúp An Giang ứng phó tốt hơn với các tình huống lũ lụt.

5.2. Đề xuất các giải pháp phát triển bền vững

Cần có các giải pháp phát triển bền vững trong công tác dự báo lũ, bao gồm việc nâng cấp cơ sở hạ tầng và cải thiện hệ thống quan trắc. Điều này sẽ giúp An Giang giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH AN GIANG VÀ BỘ CƠ SỞ DỮ LIỆU KTTV 1. TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TỈNH AN GIANG 1. Vị trí địa lý An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, nằm ở vùng hạ lưu sông Mekong, thuộc ĐBSCL, là tỉnh biên giới, có diện tích tự nhiên 3536.6802 km², phía bắc tây bắc giáp Campuchia dài 104 km, tây nam giáp tỉnh Kiên Giang dài 69.789km, nam giáp thành phố Cần Thơ dài 44.734km, đông giáp tỉnh Đồng Tháp dài 107. An Giang có điểm cực bắc trên vĩ độ 10°57' (xã Khánh An, huyện An Phú), cực nam trên vĩ độ 10°12’ (xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn), cực tây trên kinh độ 104°46' (xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn), cực đông trên kinh độ 105°35' (xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới).

Chiều dài nhất theo hướng bắc nam là 86km và đông tây là 87. Bản đồ hành chính tỉnh An Giang 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Địa hình Trên địa bàn An Giang, ngoài đồng bằng do phù sa sông Mekong trầm tích tạo nên, còn có vùng đồi núi Tri Tôn - Tịnh Biên. Do đó, về địa hình, xét tổng quát, An Giang có 2 dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi.

Đồng bằng phù sa Xét về nguồn gốc hình thành, ở An Giang, địa hình đồng bằng có 2 loại chính là đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi. Đồng bằng phù sa ở An Giang là một bộ phận của ĐBSCL, có nguồn gốc trầm tích lâu dài của phù sa sông Mekong, do môi trường và điều kiện trầm tích khác nhau mà hình thành nên các cánh đồng lũ hở, lũ kín, cồn bãi, gò, gờ, đê sông, đầm lầy,. rất phức tạp. Song, nếu xét tổng quát, địa hình đồng bằng phù sa ở An Giang có các đặc trưng cơ bản sau đây [5].

Độ nghiêng nhỏ theo hai hướng chính, hướng từ biên giới Việt Nam- Campuchia đến lộ Cái Sắn và hướng từ bờ sông Tiền đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang. Độ dốc của hai hướng này chỉ từ 0. Độ cao khá thấp và tương đối bằng phẳng, có thể chia thành 3 cấp chính, cấp có độ cao từ 3.00m trở lên nằm ở ven Sông Hậu, sông Tiền và các khu vực đất thổ cư hoặc bờ kênh đào; cấp có độ cao từ l.00m nằm ở khu giữa sông Tiền - sông Hậu và cấp có độ cao dưới l.50m phổ biến ở phía hữu ngạn sông Hậu. Hình dạng, đồng bằng phù sa ở An Giang có 3 dạng chính và 01 dạng phụ.

Dạng cồn bãi mà nhân dân địa phương quen gọi là cù lao tương tự như chiếc thuyền úp ngược. Dạng lòng chảo, địa hình ở hai bờ sông cao hơn và thấp dần vào trong nội đồng, điển hình là khu giữa sông Tiền - sông Hậu. Dạng hơi nghiêng tập trung ở phía hữu ngạn sông Hậu thuộc vùng trũng TGLX, thấp dần từ bờ sông Hậu vào trong nội đồng cho đến tận ranh giới với tỉnh Kiên Giang. Dạng gợn sóng là một dạng phụ nằm trong khu vực dạng lòng chảo, được hình thành do sự kết nối đan xen các bãi bồi ven các sông nhánh (nhân dân địa phương gọi là xép) và các rạch tự nhiên đã bị phù sa sông bồi lấp.

6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đồng bằng ven núi Xét về nguồn gốc hình thành, đồng bằng ven núi ở An Giang được phân làm hai kiểu: kiểu Deluvi (sườn tích) và kiểu đồng bằng phù sa cổ. Đồng bằng ven núi kiểu Deluvi hình thành trong quá trình phong hóa và xâm thực từ các núi đá, sau đó được nước mưa bào mòn và rửa trôi, rồi được dòng chảy lũ theo các khe suối chuyển tải xuống các chân núi, tích tụ lâu ngày lại mà thành. Loại đồng bằng này có đặc điểm là hẹp và nghiêng từ 2÷50, bị chia cắt bởi các khe suối và rãnh nhỏ, có độ cao từ 5.0m và không được bồi đắp phù sa sông hàng năm.

Ở An Giang, kiểu đồng bằng này tập trung quanh chân các núi Cô Tô, núi Dài và núi Cấm. Đồng bằng ven núi kiểu phù sa cổ có nguồn gốc từ phù sa sông trong thời kỳ Pleistocene với đặc tính là có nhiều bậc thang ở những độ cao khác nhau. Trên mỗi bậc thang khá bằng phẳng hầu như không có độ nghiêng. Chênh lệch độ cao giữa các bậc thang không lớn, thường dao động từ l.

Kiểu đồng bằng này ở An Giang không nhiều, chủ yếu ở xã An Cư và Vĩnh Trung huyện Tịnh Biên. Đồi núi ở An Giang gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau, phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km, khởi đầu từ xã Phú Hữu, hụyện An Phú, qua xã Vĩnh Tế, thành phố Châu Đốc, bao trùm lên gần hết diện tích hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn về tận xã Vọng Thê và Vọng Đông rồi dừng lại ở thị trấn Núi Sập huyện Thoại Sơn. Đứng trên góc độ địa hình, có thể chia núi An Giang thành 2 dạng chính: dạng núi cao và dốc, dạng núi thấp và thoải [5]. Trung tâm đồi núi cao hai huyện Tri Tôn-Tịnh Biên 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dạng núi cao và dốc được hình thành trong các thời kỳ tạo sơn mãnh liệt, do đó hình dạng của chúng thường là cao, có độ dốc lớn trên 25°, các thành tạo có nguồn gốc Magma là chính, phần lớn là đá cứng với nhiều pha tạo lập khác nhau (đá núi lửa và đá Granitoit có tuổi Jura thượng, đá Granite có tuổi Creta).

Theo kết quả nghiên cứu của ngành Địa chất thì ở An Giang, phần nhiều các núi lớn có độ dốc và độ cao vượt trội như núi Cấm, núi Cô Tô, núi Dài đều thuộc dạng này. Dạng núi thấp và thoải được hình thành từ các thành tạo trầm tích và phun trào có tuổi Trias và Creta nên có độ dốc nhỏ dưới 15°, độ cao thấp và ít khe suối, thậm chí một số núi có lớp thành tạo bề mặt phần lớn là đất. Ở An Giang, phần lớn các núi thấp nằm liền hoặc gần kề các núi lớn như núi Nam Qui, Sà Lon, núi Đất,. đều thuộc dạng này.

Độ cao đồi núi ở An Giang có thể được phân chia thành 6 cụm và 2 núi độc lập. Cụm núi Sập thuộc địa bàn huyện Thoại Sơn, trong đó Núi Sập to lớn hơn có độ cao là 85m với chu vi là 3800m. Cụm núi Ba Thê nằm trên đất huyện Thoại Sơn, trong đó núi Ba Thê lớn nhất với độ cao 221m và chu vi khoảng 4220m. Núi Nổi nằm độc lập thuộc huyện An Phú với độ cao 10m và chu vi khoảng 320m.

Núi Sam đứng độc lập thuộc thành phố Châu Đốc có độ cao 228m và chu vi khoảng 5200m. Cụm núi Phú Cường nằm trên địa bàn huyện Tịnh Biên, cao nhất là núi Phú Cường 282m với chu vi khoảng 9500m. Cụm núi Cấm nằm giáp trên địa bàn hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, trong đó Núi Cấm cao nhất tới 705m có chu vi 28600m. Cụm núi Dài thuộc huyện Tri Tôn, trong đó núi Dài cao nhất tới 554m và chu vi là 21625m.

Cụm núi Cô Tô thuộc địa bàn huyện Tri Tôn, trong đó Cô Tô là núi cao nhất tới 614m với chu vi 14375m [5]. Hệ thống sông, kênh, rạch và hồ An Giang là tỉnh có các sông lớn chảy qua, nhiều kênh, rạch, hồ tự nhiên và nhân tạo liên kết thành một hệ thống thủy văn rất đa dạng và phong phú. Hệ thống sông chính Sông Mekong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng chảy theo hướng nam qua 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các vùng đồi núi của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), qua Myanmar và đi vào vùng trung hạ lưu qua các nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Mekong là con sông dài nhất ở Đông Nam Á, nếu so sánh với những con sông lớn trên thế giới thì được xếp hạng thứ 10 về lượng dòng chảy (500.109m3/năm) và chiều dài (4200km), đứng thứ 25 về diện tích lưu vực (795000km2) [7].

Sau Phnom Penh về phía hạ lưu một ít, sông Mekong chia ra hai nhánh đều chảy qua lãnh thổ Campuchia rồi vào lãnh thổ Việt Nam, nhánh phía đông gọi là sông Tiền và nhánh phía tây gọi là sông Hậu. Sông Tiền chảy theo hướng tây bắc-đông nam, đoạn qua An Giang dài khoảng 80km, lần lượt chảy qua Tân Châu, Cao Lãnh, Mỹ Thuận rồi đổ ra biển Đông bằng 6 cửa là cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, cổ Chiên và Cung Hầu. Sông Hậu có hướng chảy song song với sông Tiền, đoạn qua An Giang dài gần 100km, lần lượt chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ và đổ ra biển Đông bằng 3 cửa là Định An, Bassac và Trần Đề. Tại xã Khánh Bình huyện An Phú, sông Hậu chia dòng, nhánh hữu ngạn hẹp có độ rộng chỉ bằng 1/4 dòng chính gọi là sông Bình Di.

Sau một đoạn dài trên l0km, sông Bình Di chảy đến Vĩnh Hội Đông thì gặp sông Tà Keo và sông Châu Đốc. Bắt đầu từ ngã ba này, sông Châu Đốc chảy dài đến thành phố Châu Đốc thì nhập lưu trở lại vào sông Hậu, dài 18km. Sông Vàm Nao chảy ven xã Phú Mỹ huyện Phú Tân và xã Kiến An huyện Chợ Mới, nối liền sông Tiền với sông Hậu, theo hướng đông bắc-tây nam, có chiều dài khoảng 7km. Hệ thống rạch tự nhiên Ngoài các sông lớn, An Giang còn có một hệ thống rạch tự nhiên rải rác khắp địa bàn của tỉnh với độ dài từ vài km đến trên 40km, độ rộng từ vài mét đến 100m, có độ uốn khúc quanh co khá lớn.

Các rạch trong khu vực giữa sông Tiền và sông Hậu thường lấy nước từ sông Tiền chuyển sang sông Hậu. Các rạch nằm trong khu vực hữu ngạn sông Hậu thì lấy nước từ sông Hậu chuyển sâu vào nội đồng TGLX. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những rạch lớn hiện có ở An Giang gồm Mương Khai, Cái Đầm và Cái Tắc (huyện Phú Tân), Ông Chưởng và Cái Tàu Thượng (huyện Chợ Mới), Long Xuyên (thành phố Long Xuyên), Chắc Cà Đao và Mặc Cần Dưng (huyện Châu Thành) và rạch Cần Thảo (huyện Châu Phú),. Hệ thống kênh đào Trong vùng trũng TGLX có kênh Cái Sắn, Long Xuyên, Núi Chóc - Năng Gù, Ba Thê, Mười Châu Phú, Tri Tôn, kênh Đào, Cần Thảo, Trà Sư, Tám Ngàn, Vĩnh Tế, T4, T5, T6,.

Khu vực giữa sông Tiền-sông Hậu có kênh Vàm Xáng, Vĩnh An, Thần Nông,. An Giang còn có hệ thống kênh dẫn cấp II với tổng chiều dài hiện có tới trên 1.600km, đan xen với hệ thống kênh cấp I và II còn có hệ thống kênh cấp III với tổng chiều dài gần 3100km. Tính chung các loại kênh từ cấp I đến cấp III, An Giang có trên 5200km, đạt mật độ xấp xỉ l.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ