Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Nêu tính cấp thiết của bài nghiên cứu, lý do chọn đề tài cũng như phạm vi và phương pháp thực nghiệm các tác động sẽ trình bày của bài luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Đưa ra các cơ sở lý thuyết về tình trạng kiệt quệ tài chính. Từ đó tổng hợp thêm các nghiên cứu thực nghiệm trước đây liên quan đến mô hình và mối tương quan giữa các yếu tố được sử dụng nhằm mục đích dự báo kiệt quệ tài chính hoặc phá sản của các doanh nghiệp.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp, nêu ra phương pháp và thực hiện hồi quy. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Mô tả thống kê dữ liệu thu thập phục vụ cho mục đích nghiên cứu trong bài. Đưa ra kết quả hồi quy đạt được từ các phương pháp kỹ thuật sau đó ứng dụng lý 10 thuyết và thực nghiệm để giải thích sự tác động trong điều kiện thực tiễn tại Việt Nam. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Tóm tắt các kết quả đạt được của bài luận văn cũng như đề xuất một số khuyến nghị rút ra nhằm giúp các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam phòng ngừa một số rủi ro về tài chính tốt hơn.
11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan lý thuyết: 2.1 Định nghĩa về kiệt quệ tài chính: Các lập luận về định nghĩa thế nào là giai đoạn mà doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng KQTC của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng rất đa dạng. Cụ thể, nhà nghiên cứu Beaver đưa ra nhận định rằng doanh nghiệp bị vỡ nợ khi không thể đủ nguồn tiền thanh toán cho các nghĩa vụ nợ khi tới hạn trong bài nghiên cứu của mình vào năm 1966. Sau đó thì Blum (1974) lại đưa ra nhận định rằng tỉ lệ rơi vào tình trạng KQTC phụ thuộc vào sự biến động dòng tiền từ các hoạt động hàng ngày, và có biến động ngược chiều so với xác suất rơi KQTC của doanh nghiệp. Sau đó trong giai đoạn thập kỷ cuối của thế kỷ 20 các nhà nghiên cứu Wruck (1990), Asquith (1994), Whitaker (1999) đã xác định trạng thái KQTC của doanh nghiệp dựa vào khả năng chi trả lãi vay hay khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính bằng nguồn lợi nhuận gộp.
Nhưng để bổ sung thêm tính toàn diện trong việc xác định trạng thái khó khăn về tài chính của doanh nghiệp thì các tác giả Barnes (1987, 1990); Pindado và cộng sự (2008), Tinoco và Wilson (2013) đã bổ sung thêm yếu tố ngoài thị trường bên cạnh các chỉ số trên BCTC, do giá trị thị trường của doanh nghiệp là một nguồn thông tin hết sức hữu ích thể hiện sức khỏe tài chính của doanh nghiệp, vì vậy giá trị thị trường của doanh nghiệp nên được dùng để xác định tình trạng KQTC. Như vậy để xác định được định nghĩa chính xác về KQTC là chưa thật sự rõ ràng và rất khó trong việc đưa ra một khái niệm chính xác. Đồng quan điểm đó các nghiên cứu của Ross (1999), Altman (2006), Huỳnh Thị Cẩm Hà (2017) cũng đã lập luận rằng kiệt quệ tài chính là một thuật ngữ rất khó để có thể diễn đạt một cách thống nhất, tuy có thể hiểu về mặt bản chất là chỉ tình trạng chung của các doanh nghiệp ở giai đoạn tình trạng khánh kiệt về mặt tài chính. Nhưng làm sao để xác định hay dựa vào yếu tố gì thì lại chưa có sự tương đồng giữa các bài nghiên cứu, nó lại có sự khác biệt vào không gian và thời gian nghiên cứu.
Theo Atlman (2005), Huỳnh Thị Cẩm Hà (2017) đã đưa ra bốn thuật ngữ để mô tả về các giai đoạn khác nhau của khái niệm kiệt quệ tài chính, cụ thể như sau: 12 (i) Thất bại (Failure), khái niệm này được các nhà nghiên cứu lập luận dựa chủ yếu vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể là về các nghĩa vụ thanh toán nợ, khi dòng tiền kinh doanh không thể đảm bảo đủ để chi trả hết các nghĩa vụ nợ hiện tại khi tới hạn thanh toán (Wruck, 1990). Có thể bao gồm: thanh toán các khoản nợ vay cho ngân hàng, lương cho nhân sự công ty, hay các khoản nợ cho nhà cung cấp và các điều khoản phạt liên quan. Trong khi đó, Andrade và cộng sự (1998) lại phân khái niệm “thất bại” thành những trường hợp riêng: (i) hoạt động kinh doanh có doanh thu không thể bù đắp phần chi phí giá vốn và (ii) dòng tiền hoạt động kinh doanh không thể chi trả hết cho các khoản vay.
Theo nghiên cứu của Altman và cộng sự (2006), “thất bại” là khi tỷ suất lợi nhuận hoạt động kinh doanh thấp hơn so với tỉ suất trung bình của thị trường đối với các hoạt động tương đồng, hoặc tỉ suất này thấp hơn chi phí sử dụng vốn. Tóm lại, “thất bại” chủ yếu được các nhà nghiên cứu đưa ra sự so sánh giữa doanh thu với các loại chi phí hay tỉ suất sinh lợi của hoạt động kinh doanh so với tình hình chung của thị trường, nôm na là về hoạt động kinh doanh đang hiệu quả hay không. Đây có thể xem là giai đoạn đầu tiên của quá trình kiệt quệ tài chính, khi tỉ suất sinh lời thấp dễ dẫn đến nguy cơ không thể chi trả được các khoản chi phí lãi vay, nhưng doanh nghiệp vẫn có thể hoạt động bình thường nếu trải qua giai đoạn khó khăn. Doanh nghiệp được cho là “mất khả năng thanh toán” là khi nó không thể hoàn tất các nghĩa vụ nợ của mình.
Định nghĩa này khá tương đồng với quan điểm về “thất bại” của Wruck (1990). Tuy nhiên, Wruck cũng đưa ra lập luận là có sự khác biệt giữa hai khái niệm này, nhưng không quá lớn nên vẫn có thể được sử dụng thay thế cho nhau. Để bổ sung thêm về định nghĩa thì Wruck (1990), hay Ross và cộng sự (2003) chia “mất khả năng thanh toán” thành hai trường hợp cơ bản: dựa trên giá trị thị trường của tài sản hiện hữu bị mất giá nên không thể thực hiện các nghĩa vụ cho chủ nợ hoặc dựa vào dòng tiền tương tự như khái niệm về “thất bại”, khi dòng tiền từ vào không đảm bảo được việc thực hiện các nghĩa vụ về tài chính. Như vậy có thể hiểu đây là một giai đoạn sau của “thất 13 bại” khi không thể đáp ứng được các khoản nợ từ dòng tiền và giá trị thị trường của các tài sản có sự sụt giảm.
(iii) Vỡ nợ (Default): đây là một khái niệm khác, thể hiện mối tương quan giữa doanh nghiệp và các chủ nợ. Theo lập luận của Altman và cộng sự (2005), “vỡ nợ” có thể chia thành hai trường hợp: vỡ nợ kỹ thuật (là khi doanh nghiệp vi phạm các khoản mục trong các hợp đồng đi vay) và vỡ nợ pháp lý (là không thể thanh toán các khoản nợ khi đến hạn). Bài nghiên cứu còn nhấn mạnh trong thực tế các trường hợp liên quan đến vỡ nợ doanh nghiệp buộc phải nỗ lực đàm phán với các chủ nợ nhằm gia hạn hoặc hỗ trợ để tránh tình trạng “phá sản”. Có thể phân biệt giữa “vỡ nợ” và “mất khả năng thanh toán” ở thời gian đáo hạn khoản nợ, “vỡ nợ” được xác định khi đến thời điểm phải thanh toán, còn “mất khả năng thanh toán” có thể xảy ra trước khi đến thời điểm thanh toán.
(iv) Và cuối cùng là phá sản (Bankruptcy): Altman và cộng sự (2005) cho rằng khi doanh nghiệp bắt đầu nộp đơn để xin tòa án để chính thức xin phá sản. “Phá sản” có thể được xem là phương án cuối cùng khi doanh nghiệp không thể xử lý các vấn đề liên quan đến tài chính. Khi đó doanh nghiệp trả cho các chủ nợ thông qua việc thanh lý các tài sản sở hữu, tuy nhiên không đồng nghĩa là khi doanh nghiệp nộp đơn lên tòa án xin tuyên bố phá sản là chấm dứt quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Ở nước ta, Luật phá sản tại Điều 87 quy định rằng, khi rơi vào tình trạng phá sản, doanh nghiệp vẫn có thể hoạt động kinh doanh nếu các phương án kinh doanh được các bên liên quan thông qua.
Hay nói cách khác khi doanh nghiệp không thể chi trả hết cho chủ nợ, nhưng vẫn có những đường lối kinh doanh rõ ràng sẽ có cơ hội phục hồi. Tóm tắt lại, các giai đoạn của kiệt quệ tài chính bắt đầu từ thất bại trong hoạt động kinh doanh, đầu tư dẫn tới mất khả năng thanh toán, và bị vỡ nợ khi các khoản nợ tới hạn nhưng không thể đàm phán với chủ nợ về các điều khoản hỗ trợ. Dẫn tới phải nộp đơn lên tòa án xin phá sản, có thể phải thanh lý tài sản để thanh toán cho các chủ nợ. Vì vậy, có thể nói KQTC là sự thay đổi linh hoạt các trạng thái khác nhau khi xảy ra các biến cố bất thường trong hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, chính vì thế thì các nhà nghiên cứu cũng cần tìm ra một tiêu chuẩn hoàn chỉnh hơn 14 nhằm phân loại mức độ khó khăn về tài chính khác nhau để các doanh nghiệp đưa ra các biện pháp phù hợp với mỗi giai đoạn nhằm phục hồi hoạt động kinh doanh.2 Nguyên nhân gây ra tình trạng kiệt quệ tài chính: Kiệt quệ tài chính là một quá trình chuyển đổi linh hoạt và phức tạp các yếu tố khác nhau gây ra tình trạng kiệt quệ tài chính của công ty.
Những nhân tố tác động KQTC có thể được phân loại thành hai nhóm: nhóm các yếu tố nội sinh (bên trong doanh nghiệp) và các yếu tố ngoại sinh (bên ngoài môi trường) theo như nghiên cứu của Karels và cộng sự (1987). Các nhân tố nội sinh, thuộc bên trong của doanh nghiệp đóng vai trò tương đối lớn trong việc gây nên tình trạng KQTC của công ty.