Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu, trong chương này giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài. Chương 2: Cơ sở lí thuyết và nội dung nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu về xếp hạng tín nhiệm, trình bày các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và Việt Nam trước đây về sử dụng mô hình Logistic để dự báo khả năng vỡ nợ của khách hàng. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trình bày cụ thể đến phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và cơ sở dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các biến được sử dụng và các giả định phục vụ cho việc nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu, trong chương này trình bày kết quả thực nghiệm của nghiên cứu về sử dụng mô hình Logistic để dự báo khả năng vỡ nợ của khách hàng được xử lý thông qua bộ số liệu thu thập đươc, bao gồm các phân tích, giải thích về các mô tả thống kê, các phân tích về tương quan và hồi quy.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị, trong chương này tác giả tổng hợp lại kết quả của vấn đề được nghiên cứu trên cơ sở kết quả của mô hình thực nghiệm đã sử dụng, nêu bật các hạn chế trong nghiên cứu và hướng mở rộng trong tương lai. Bên cạnh đó, tác giả đưa ra các khuyến nghị cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách trên cơ sở kết quả nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN 2. Cơ sở lý thuyết về tín dụng ngân hàng: 2.
Khái niệm tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tài sản giữa ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác. Theo khoản 14, điều 14, Luật các tổ chức tín dụng, 2010, quy định: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” Ngoài ra, tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán (Hồ Diệu, 2011; Hồ Hoàng Triệu, 2019). Hoặc tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Như vậy, có thể hiểu tín dụng của các ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn hoặc tài sản từ NHTM cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Đặc trưng của tín dụng ngân hàng: Thứ nhất, chủ thể trong quan hệ tín dụng NHTM bao gồm người nhượng quyền sử dụng vốn hay còn gọi là bên cho vay và người nhận quyền sử dụng vốn hay còn gọi là bên đi vay (khách hàng). Trong một số trường hợp, quan hệ tín dụng NHTM còn xuất hiện bên 8 thứ ba đóng vai trò là người bảo lãnh cho bên đi vay vì thế mức độ rủi ro thấp hơn do đã có sự đảm bảo thanh toán (Hồ Diệu, 2011; Hồ Hoàng Triệu, 2019; Phan Thị Thu Hà, 2013). Thứ hai, đối tượng của giao dịch tín dụng NHTM bao gồm cho vay bằng tiền và cho thuê động sản hay bất động sản. Thứ ba, sự chuyển nhượng vốn được dựa trên cơ sở “niềm tin” và theo nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện trong một khoảng thời hạn nhất định.
Quá trình đi vay và cho vay căn cứ trên cơ sở pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, hợp đồng bảo đảm tiền vay, bảo lãnh,……Khoảng thời hạn cho vay được ngân hàng xác định thông qua tính chất thời hạn của nguồn vốn, phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng đi vay nhằm tránh được những rủi ro tiềm ẩn (Hồ Diệu, 2011; Hồ Hoàng Triệu, 2019). Thứ tư, giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay bao gồm cả vốn gốc, lãi và phí tín dụng. Khoản lãi mà ngân hàng nhận lại được coi là khoản bù đắp cho những chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng phản ánh bản chất hoạt động của ngân hàng là “đi vay để cho vay” (Hồ Diệu, 2011; Hồ Hoàng Triệu, 2019). Thứ năm, hoạt động tín dụng ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Việc thu hồi vốn không chỉ phụ thuộc vào bản thân bên đi vay mà còn chịu tác động của môi trườnghoạt động và các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như: Biến động về giá cả hàng hóa, lãi suất, lạm phát, suy thoái kinh tế,… 2. Vai trò của tín dụng ngân hàng: Thứ nhất, tín dụng ngân hàng đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra một cách thường xuyên và liên tục. Đây là nguồn cung vốn lớn và liên tục cho nền kinh tế nhờ đó các doanh nghiệp hay cá nhân sẽ được tài trợ vốn thường xuyên để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, bằng những nỗ lực cải tiến không ngừng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng việc tiếp cận nguồn vốn vay của các chủ thể kinh tế ngày càng trở nên 9 nhanh chóng và dễ dàng hơn góp phần duy trì sự vận hành nhịp nhàng của toàn bộ nền kinh tế.
Thứ hai, đây là đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển quá trình tích tụ và tập trung vốn. Thông qua chức năng trung gian tài chính, các NHTM đã và đang phát huy tối đa tính tích cực của việc thu hút vốn thông qua chính sách tín dụng hấp dẫn đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường tạo đòn bẩy tài chính cho các doanh nghiệp phát triển kinh doanh sản xuất. Thứ ba, tín dụng ngân hàng giúp thúc đẩy việc bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận giữa các ngành nghề trong nền kinh tế và là công cụ quan trọng trong việc tổ chức đời sống dân cư. Các hình thức của tín dụng ngân hàng: Phân loại theo thời gian cấp tín dụng Cho vay ngắn hạn: Có thời hạn đến 1 năm và mục đích chủ yếu là nhằm bù đắp những thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp cũng như nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Cho vay trung hạn: Thời gian cấp tín dụng từ 1 đến 5 năm nhằm mục đích mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Cho vay dài hạn: Thời hạn trên 5 năm có thể kéo dài đến 30 năm nhằm đáp ứng nhu cầu dài hạn của khách hàng như xây nhà ở, xí nghiệp, nhà máy mới, … Phân loại theo mục đích sử dụng vốn Tín dụng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh: Nhằm cung cấp vốn cho các doanh nghiệp đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh, cải tiến trang thiết bị. Tín dụng tiêu dùng: Cung cấp cho khách hàng khả năng tiếp cận với nguồn vốn tạm thời nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu hàng ngày. Phân loại theo phương thức hoàn trả 10 Cho vay hoàn trả một lần là hình thức cho vay thanh toán một lần theo thời hạn đã được thỏa thuận trước giữa khách hàng và ngân hàng.
Cho vay trả góp: Khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi theo định kỳ áp dụng đối với cho vay bất động sản, nhà ở, thương mại, tiêu dùng. Phân loại theo mức độ đảm bảo Cho vay có đảm bảo là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Cho vay không đảm bảo là loại cho vay không có tài sản thế chấp đảm bảo hay không có sự bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa trên uy tín của khách hàng. Phân loại theo đối tượng cấp tín dụng Tín dụng tiền tệ: Là loại hình cấp tín dụng bằng tiền tệ.
Tín dụng thuê mua: Là hình thức cho thuê vận hành hoặc cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm động sản và bất động sản. Phân loại theo xuất xứ tín dụng Cho vay trực tiếp: Ngân hàng thực hiện cấp vốn cho người có nhu cầu và người đi vay tiến hành trả nợ trực tiếp cho ngân hàng. Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được ngân hàng thực hiện thông qua mua lại các khế ước hoặc chứng từ nhận nợ đã phát sinh và vẫn còn thời hạn thanh toán.
Các NHTM cho vay gián tiếp bằng các hình thức như: Chiết khấu thương phiếu, mua lại các hợp đồng trả góp của các công ty bán hàng, mua lại các khoản nợ của các doanh nghiệp. Phân loại theo thành phần kinh tế 11 Tín dụng các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm và các định chế tài chính khác. Tín dụng KHDN: Là loại hình cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhằm tài trợ vốn lưu động, đầu tư dự án, mua sắm trang thiết bị, máy móc. Tín dụng KHCN: Là loại cho vay nhằm mục đích đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng, cũng như trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua việc phát hành thẻ tín dụng.
Hiện nay, các NHTM đều đang nỗ lực cải tiến quy trình tín dụng, nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng nhằm đáp ứng được những yêu cầu linh hoạt của thị trường. Một trong những loại hình cấp tín dụng được các ngân hàng chú trọng nhất đó là tín dụng KHCN. Cơ sở lý thuyết về tín dụng khách hàng cá nhân: 2. Tín dụng khách hàng cá nhân: 2.